Chương 1 của luận văn trình bày các khái niệm và các nghiên cứu có liên quan đến rủi ro trong các dự án đầu tư xây dựng. Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng rủi ro trong các dự án đầu tư xây dựng công trên địa bàn huyện Châu Đức, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.1 Dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm dự án Có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án. Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định nghĩa dự án là “Một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”. Theo Luật Đầu tư (2005) thì “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Obinero (2004) cho rằng dự án là sự nỗ lực tạm thời được tiến hành để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Nói “tạm thời” vì nó có thời gian bắt đầu và kết thúc, nói “duy nhất” vì các sản phẩm hay dịch vụ đều khác nhau. Như vậy, dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung đều chỉ ra những điểm chính của dự án như: (1) các dự án đều được thực hiện bởi con người, bị ràng buộc bởi các nguồn lực hạn chế (con người, tài nguyên, v.v…) và (2) được hoạch định, được thực hiện và được kiểm soát. Luan van 17 Theo Luật Đầu tư công Việt Nam năm 2019 của Việt Nam thì “Dự án đầu tư công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công”, trong đó vốn đầu tư công bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước; Vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật.2 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Trong luận văn này, dự án đầu tư xây dựng được hiểu là “Tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.” (Luật Xây dựng, 2014) Như vậy có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng bao gồm hai nội dung là đầu tư và hoạt động xây dựng.
Nhưng các dự án xây dựng đòi hỏi phải có một diện tích đất nhất định, ở một địa điểm nhất định (bao gồm đất, khoảng không, địa chất, v. Đây là yếu tố vật chất vô cùng quan trọng. Đất ngoài các giá trị về địa chất, còn có giá trị về vị trí, địa lý, kinh tế, môi trường, xã hội, v.v… Do đó, việc quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những đặc điểm và yêu cầu riêng, cần hết sức lưu ý khi thực hiện dự án xây dựng. Tổng hợp khái niệm về dự án đầu tư công và dự án đầu tư xây dựng, tác giả khái niệm: “Dự án đầu tư xây dựng công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn ngân sách Nhà nước; Vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan Nhà nước để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng”.
Như vậy dự án đầu tư xây dựng công mang đầy đủ những đặc điểm của một dự án đầu tư xây dựng, chỉ khác biệt về nguồn vốn sử dụng và cách phân bổ nguồn vốn.3 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Trong tài liệu “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình”, Lê Văn Thịnh (2008) Luan van 18 đã chỉ ra một số đặc điểm chính của dự án đầu tư xây dựng. Cụ thể như sau: Một là, mục tiêu của dự án đầu tư được xác định cụ thể và rõ ràng ngay từ khi bắt đầu dự án (Ví dụ: bê tông hóa bao nhiêu kilomet đường, thực hiện trong thời gian bao lâu). Căn cứ vào mục tiêu này, các bên liên quan đến dự án thực hiện việc lập kế hoạch, phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý để tránh lãng phí mà vẫn đạt được kết quả như mong đợi. Hai là, dự án đầu tư xây dựng có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn, nghĩa là mỗi dự án đều có một thời hạn nhất định, tức là có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc.
Ba là, dự án đầu tư xây dựng được xem là một chuỗi các hoạt động nhất thời. Một tổ chức được thành lập để quản lý dự án chỉ tồn tại đến khi đạt được mục tiêu của dự án. Sau khi dự án hoàn thành, tổ chức này sẽ được giải tán hoặc thay đổi nhiệm vụ khác. Bốn là, có sự khác nhau về sản phẩm hoặc kết quả giữa các dự án đầu tư xây dựng.
Sự khác biệt về vị trí địa lý, địa hình nơi xây dựng hay tâm lý khách hàng làm cho mỗi sản phẩm của một dự án xây dựng mang tính độc quyền riêng. Năm là, dự án đầu tư xây dựng liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau như chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công, đơn vị giám sát, nhà cung ứng, v.v… Do đó, trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng rất dễ xảy ra xung đột về lợi ích giữa các bên, làm kéo dài tiến độ thi công dự án. Sáu là, dự án đầu tư xây dựng luôn bị giới hạn về thời gian thực hiện trong khi lại bị hạn chế về nguồn vốn, từ đó kéo theo các áp lực về nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiết bị, v.v… Cuối cùng là, thời gian thực hiện dự án đầu tư xây dựng thường kéo dài nên rất dễ chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài như nền kinh tế hay điều kiện thời tiết. Do Luan van 19 đó, các dự án đầu tư xây dựng có tính bất định và độ rủi ro cao.4 Phân loại dự án đầu tư xây dựng Theo quy mô và tính chất: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư, các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, và C (Nghị định 59/2015/NĐ-CP).
Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư thì dự án đầu tư xây dựng được phân loại như sau: + Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước: Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công đến khi nghiệm thu, bàn giao công trình đưa vào sử dụng và khai thác; + Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; + Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn: Các bên góp vốn thỏa thuận về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ % lớn nhất trong tổng mức đầu tư của dự án (Nghị định 59/2015/NĐ-CP). Nếu dựa vào lĩnh vực hoạt động thì dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các nhóm sau: Nhóm các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; Nhóm các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; Nhóm các dự án đầu tư dịch vụ và kinh doanh; Nhóm các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài; Nhóm các dự án đầu tư hỗ trợ tài chính; Nhóm các dự án đầu tư hỗ trợ kỹ thuật; và Các nhóm khác (Nghị định 59/2015/NĐ-CP).2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm quản lý dự án Luan van 20 Quản lý dự án là hoạt động quan trọng, có tính chất quyết định sự thành công của dự án. Có nhiều cách quan điểm khác nhau về quản lý dự án: Theo Nguyễn Văn Đáng (2002), quản lý dự án là việc điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia vào dự án, nhằm hoàn thành dự án đó theo những hạn chế được áp đặt bởi: Chất lượng, thời gian, chi phí. Theo Lê Văn Thịnh (2008), quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn.
Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án. Như vậy, quản lý dự án là tập hợp các hành động nhằm quản lý tất cả các khía cạnh của một dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Nó bao gồm lập kế hoạch, điều phối thực hiện, giám sát quá trình thực hiện và đánh giá sau triển khai. Trong quá trình thực hiện người quản lý dự án và đội ngũ của mình luôn hướng tới đạt được mục tiêu đồng thời đảm bảo tiến độ, chi phí cũng như nguồn lực dự án.
Quản lý dự án thông qua các công cụ đảm bảo sự truyền đạt tốt tới những người có liên quan để xử lý công việc trong khoảng thời gian và ngân sách cho phép. Quá trình quản lý dự án có thể được chia làm 5 nhóm công việc khác nhau bao gồm khởi tạo, lên kế hoạch, thực hiện, theo dõi kiểm soát, và cuối cùng là quy trình đóng dự án. Khởi tạo dự án là quy trình mà nhà quản lý bắt đầu dự án và đặt nền móng đầu tiên cho thành công sau này. Lên kế hoạch là quá trình nhà quản lý chia nhỏ công việc ra rồi lên kế hoạch cho dự án và cuối cùng là thời gian biểu cho toàn dự án; Nhà quản lý sẽ giao việc cho từng cá nhân, cân bằng khối lượng công việc cho họ và chuyển sang thực hiện quy trình kế tiếp.
Việc thực hiện dự án là lúc các công việc cụ thể được thực hiện theo kế hoạch. Quy trình theo dõi và điều khiển bao gồm trong tất cả các giai đoạn của dự án.