phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng cụ thể là: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về thị trƣờng chứng khoán và hàng hoá cho thị trƣờng. Chƣơng 2: Thực trạng hàng hoá trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển hàng hoá cho thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ HÀNG HOÁ CHO THỊ TRƢỜNG 1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.
Khái quát sự hình thành và phát triển của thị trƣờng chứng khoán trên thế giới và Việt Nam Thị trƣờng chứng khoán là một bộ phận của thị trƣờng tài chính hoạt động trong lĩnh vực phát hành và trao đổi cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các công cụ tài chính phái sinh từ cổ phiếu, trái phiếu theo những phƣơng thức có tổ chức nhƣ giao dịch qua Sở Giao dịch Chứng khoán, Công ty Chứng khoán, giao dịch trực tiếp, hoặc qua mạng. Tuy nhiên, thị trƣờng chứng khoán ban đầu không phải ngay lập tức đã hoàn chỉnh nhƣ các hình thái trên. Thị trƣờng chứng khoán đã manh nha ra đời từ thế kỷ XV ở các nƣớc phƣơng Tây, tại các thành phố trung tâm buôn bán. Cùng với thời gian, thị trƣờng chứng khoán đã ra đời tự phát tại một số nƣớc nhƣ: Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ vào thế kỷ 18-19.
Trải qua các thời kỳ thị trƣờng chứng khoán càng phát triển và có vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Môi giới đã trở thành một nghề hoạt động trên thị trƣờng này. Hoạt động của thị trƣờng chứng khoán đƣợc nhà nƣớc thừa nhận bằng pháp luật, nhà nƣớc còn giữ vai trò ngƣời giám sát để đảm bảo nguyên tắc công bằng, công khai và định hƣớng mục tiêu hoạt động của thị trƣờng. Hiện nay đã có trên 160 thị trƣờng chứng khoán lớn nhỏ hoạt động trên khắp các châu lục.
ở các nƣớc có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế, thị trƣờng chứng khoán cũng đã dần đƣợc xây dựng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, thị trƣờng chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không thể thiếu đƣợc, nó là kênh huy động vốn trung và dài hạn to lớn, hỗ trợ cho kênh tạo vốn gián tiếp qua ngân hàng và trung gian tài chính. Việt Nam, với sự ra đời của hai Trung tâm giao dịch chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh tháng 7 năm 2000 và tại Hà Nội tháng 3 năm 2005 đánh dấu một bƣớc tiến quan trọng trong nỗ lực hoàn thiện và đồng bộ hoá thị trƣờng 6 z tài chính quốc gia.
Đây đƣợc coi là bƣớc khởi đầu để các bộ, ngành, doanh nghiệp và các nhà đầu tƣ làm quen và hƣớng tới một lĩnh vực đầu tƣ mới. Thị trƣờng chứng khoán có kỹ thuật và công nghệ riêng, hầu hết các nƣớc phát triển, Sở giao dịch chứng khoán đã sử dụng triệt để sự phát triển của công nghệ thông tin, nhất là sử dụng các đƣờng truyền số liệu. Nhƣng ở các thị trƣờng chứng khoán tập trung tính chất sôi động nhƣ một khu chợ ngoài trời nhìn chung vẫn còn. Tuy nhiên không phải tất cả các thị trƣờng chứng khoán trên thế giới đều giống nhau.
Tuỳ theo đặc điểm kinh tế, xã hội và tâm lý mà mỗi nƣớc có cách tổ chức và giao dịch riêng. Nhƣng dù tổ chức theo cách nào, thì các thị trƣờng chứng khoán cũng dựa trên các nguyên tắc căn bản liên quan đến chứng khoán, tổ chức thị trƣờng, giao dịch và sự kiểm soát của Nhà nƣớc. Khái niệm và phân loại thị trƣờng chứng khoán 1. Khái niệm về thị trường chứng khoán Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa và cách giải thích khác nhau về thị trƣờng chứng khoán, điều này cho thấy bản thân thị trƣờng chứng khoán là một thực thể phức tạp với nhiều mối liên hệ đặc trƣng khác nhau, hơn nữa thị trƣờng chứng khoán là hiện tƣợng kinh tế khách quan có sự phát sinh, phát triển.
Ở từng giai đoạn phát triển, thị trƣờng chứng khoán cũng mang những nội dung khác nhau về mô hình tổ chức, chủng loại hàng hoá và phƣơng thức giao dịch. Chính vì thế dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhƣng nhìn chung có thể nêu khái quát "thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, trong đó chuyên môn hoá việc giao dịch một số loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu, trái phiếu, theo những phương thức có tổ chức như giao dịch qua sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán, trực tiếp hoặc gián tiếp qua mạng" [3] Hiểu theo nghĩa đơn giản thị trƣờng chứng khoán là nơi chứng khoán đƣợc phát hành, trao đổi gồm ngƣời mua, ngƣời bán và ngƣời trung gian. Thị trƣờng chứng khoán là một thể chế tài chính đặc trƣng của cơ chế thị trƣờng, ra đời với tƣ cách là một bộ phận của thị trƣờng vốn, nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi chứng khoán các loại, tạo ra kênh huy động vốn dài hạn, khối lƣợng lớn phục vụ cho nền kinh tế. Chỉ có nền kinh tế thị trƣờng mới có thị trƣờng chứng khoán và ngƣợc lại một khi thị trƣờng chứng khoán hoạt 7 z động có hiệu quả cũng chứng tỏ đó là một nền kinh tế đƣợc vận hành theo cơ chế thị trƣờng.
Bản chất thị trƣờng chứng khoán là nơi mua bán, chuyển nhƣợng quyền sở hữu về vốn và tài sản của những ngƣời sở hữu chứng khoán. Tổ chức thị trƣờng chứng khoán nhƣ thế nào chủ yếu là do quan niệm về thị trƣờng chứng khoán của mỗi nƣớc, mà không phải do trình độ kỹ thuật hay khả năng kinh tế. Thị trƣờng chứng khoán Anh, Pháp và một số nƣớc mới có thị trƣờng chứng khoán sau này nhƣ Thái Lan, Singapore. thực hiện hệ thống giao dịch tự động có thị trƣờng nhƣng không có “chợ”.
Trong khi đó ở Mỹ, Nhật, Đức vẫn trung thành với phƣơng thức giao dịch truyền thống luôn đông đúc, ồn ào bởi sự la hét và dùng các ký hiệu bằng tay. Phân loại thị trường chứng khoán Cho đến nay, có nhiều cách phân loại thị trƣờng chứng khoán Một là: căn cứ vào hàng hoá có thể chia thành thị trƣờng trái phiếu và thị trƣờng cổ phiếu. Hai là: căn cứ vào phƣơng thức giao dịch có thể chia thành thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. - Thị tƣờng sơ cấp (thị trƣờng cấp I hay thị trƣờng phát hành) đây là nơi mua bán chứng khoán mới phát hành (phát hành lần đầu) để tạo lập doanh nghiệp; tăng thêm vốn cho doanh nghiệp; huy động vốn cho chi tiêu của chính phủ, từ đó, đƣa nguồn vốn tiết kiệm vào đầu tƣ.
Nguồn cung cấp vốn chủ yếu của thị trƣờng này là từ tiết kiệm của dân chúng, một số tổ chức tài chính và phi tài chính. Đây là giai đoạn khó khăn, phức tạp, có liên quan tới nhiều yếu tố tạo lập hàng hoá nhƣ hình thức chứng khoán, phƣơng thức phát hành, các định giá chứng khoán, các thủ tục về đăng ký, lƣu thông, bảo quản. Việc phát hành chứng khoán ra công chúng, các nhà đầu tƣ ở các nƣớc có thị trƣờng chứng khoán phát triển hiện nay hầu hết đều thông qua các công ty chứng khoán, các ngân hàng lớn theo phƣơng thức bảo lãnh chắc chắn. Trong quá trình phát hành, chỉ một sai xót nhỏ cũng có thể làm chứng khoán không thể tiêu thụ đƣợc, gây tổn thất tài sản cũng nhƣ uy tín của chủ thể phát hành.
Vì vậy, chính phủ các nƣớc thƣờng có các quy định chặt chẽ và kiểm soát nghiêm ngặt việc phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để đảm bảo thị trƣờng cấp I hoạt động có hiệu quả, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tƣ. - Thị trƣờng thứ cấp (thị trƣờng cấp II) đây là thị trƣờng mua đi bán lại các chứng khoán đã đƣợc phát hành với nhiều lần mua bán và giá cả khác 8 z nhau. Dòng vốn đƣợc lƣu chuyển giữa các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành. Nói cách khác tiền vốn từ thị trƣờng này không làm tăng quy mô đầu tƣ vốn cho nền kinh tế mà chỉ luân chuyển giữa các nhà đầu tƣ.
Đây là sự khác nhau căn bản giữa thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. Thị trƣờng thứ cấp, nếu xét theo tính chất tổ chức có thể chia thành thị trƣờng tập trung và phi tập trung (OTC). Nếu xét theo loại hàng hoá có thể chia thành thị trƣờng cổ phiếu, thị trƣờng trái phiếu, thị trƣờng chứng khoán phái sinh. Thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp có quan hệ mật thiết và không thể tách rời nhau, chúng là hai bộ phận cấu thành một thị trƣờng, trong đó thị trƣờng sơ cấp là cơ sở còn thị trƣờng thứ cấp là động lực.
Nếu không có thị trƣờng sơ cấp thì không có hàng hoá cho thị trƣờng thứ cấp. Ngƣợc lại, nếu không có thị trƣờng thứ cấp thì thị trƣờng sơ cấp không thể hoạt động trôi chảy. Sự có mặt của thị trƣờng thứ cấp tạo tính thanh khoản cho chứng khoán, làm tăng tính hấp dẫn của chứng khoán; từ đó làm tăng tiềm năng huy động vốn cho chủ thể phát hành. Nhƣ vậy, thị trƣờng thứ cấp tạo điều kiện cho thị trƣờng sơ cấp phát triển.
Trong thực tế, khó có thể phân biệt hai thị trƣờng này. Mặc dù vậy, việc phân định hai cấp của thị trƣờng chứng khoán có ý nghĩa quan trọng trong tiếp cận thị trƣờng, nhất là trong nghiên cứu, tìm hiểu các quan hệ cung cầu, quan hệ cơ bản nhất có tác dụng định tính và định hƣớng quy trình hoạt động của thị trƣờng chứng khoán. Những tác động của thị trƣờng chứng khoán trong nền kinh tế thị trƣờng 1. Những tác động tích cực.
Một là: Cung cấp nguồn vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế: Trên thị trƣờng chứng khoán các hình thức huy động vốn đƣợc thực hiện thông qua các công cụ là chứng khoán. Chính phủ và chính quyền địa phƣơng có thể huy động vốn cho mục đích sử dụng và đầu tƣ phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội bằng cách phát hành các chứng khoán có giá dƣới dạng chứng khoán nợ trên thị trƣờng sơ cấp. Khi đó, chính phủ là ngƣời đi vay và ngƣời nắm giữ các chứng khoán này là những chủ nợ. Các công ty để thành lập hoặc tăng vốn điều lệ sẽ phát hành các loại chứng khoán vốn.
Nguồn vốn này ổn định, đảm bảo sử dụng trong dài hạn các doanh nghiệp không phải lo hoàn trả nhƣ khi đi vay ngân hàng.