phần mở đầu, bài nghiên cứu bao gồm 5 phần: I. Cơ sở lý luận II. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây III. Phƣơng pháp luận và mô hình nghiên cứu IV.
Kết quả thực nghiệm tại Việt Nam V. Kết luận và kiến nghị 4 I.1 Đƣờng cong Phillips và sự đánh đổi Đƣờng Phillips ngắn hạn thể hiện sự đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp đối với các nhà làm chính sách. Theo quan điểm này, các nhà làm chính sách có hai lựa chọn: họ có thể chọn lạm phát cao để nhằm giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp, hoặc chấp nhận thất nghiệp cao để giữ lạm phát ở mức kiểm soát. Trong ngắn hạn, khi giá cả hoặc lạm phát kỳ vọng không thay đổi, việc giảm lạm phát thƣờng đòi hỏi giảm sản lƣợng và việc làm.
Tỷ lệ hy sinh – tỷ lệ của sản lƣợng dự tính để giảm một điểm phần trăm lạm phát đƣợc xác định bằng hệ số góc của đƣờng cong Phillips (β): (1) β = /ỹ : tỷ lệ lạm phát ỹ = (Y - Y*)/Y*: Chênh lệch giữa sản lƣợng thực tế (Y) và sản lƣợng tiềm năng (Y*). 5 Độ dốc của đƣờng cong Phillips (β) càng nhiều thì chi phí của sự hy sinh về mặt sản lƣợng và việc làm để đạt mục tiêu ổn định về giá càng cao. Nói cách khác, độ dốc của đƣờng cong Phillips phụ thuộc phần lớn vào độ cứng nhắc của lƣơng và giá cả: Hai yếu tố này càng cứng nhắc thì đƣờng cong càng phẳng và tỷ lệ hy sinh càng cao. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy, đƣờng cong Phillips không ổn định ở mọi thời điểm mà dịch chuyển lên xuống tùy thuộc vào một số yếu tố, trong đó, quan trọng là tỷ lệ lạm phát kỳ vọng (e) và những cú sốc giá cả ngoại sinh () – sự tăng hay giảm của giá cả hàng hóa thế giới.
Chính vì vậy, đƣờng cong Phillips hiện đại – đƣờng cong Phillips có bổ sung kỳ vọng đƣợc thể hiện nhƣ sau: (2) = e + β.ỹ + Theo đó, một sự tăng (giảm) trong tỷ lệ lạm phát kỳ vọng sẽ gắn liền với sự dịch chuyển lên (xuống) của đƣờng cong Phillips. Vì vậy, một sự tăng (giảm) trong tỷ lệ lạm phát kỳ vọng sẽ dẫn tới sự tăng (giảm) của tỷ lệ lạm phát thực tế mà không phụ thuộc vào khoảng cách sản lƣợng. Cũng nhƣ vậy, một cú sốc giá cả tiêu cực/ tích cực (ví dụ nhƣ sự tăng hay giảm của giá cả hàng hóa trên thế giới) sẽ dẫn tới mức lạm phát cao (thấp) hơn, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. 6 Trong dài hạn, những cú sốc ngoại sinh về giá là ngẫu nhiên và xê dịch ( = 0), không có chênh lệch từ sản lƣợng tiềm năng (ỹ = 0) và vì thế = e và tỷ lệ lạm phát kỳ vọng sẽ đƣợc điều chỉnh gần với thực tế hay nói cách khác chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trƣởng của tiền tệ.
Và nhƣ thế trong dài hạn, các nhà làm chính sách sẽ không còn lựa chọn là giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp kể cả là ở mức lạm phát cao.2 Kỳ vọng và cách thức hình thành kỳ vọng lạm phát: 1.1 Kỳ vọng1 Kỳ vọng về tƣơng lai đóng vai trò then chốt trong mọi nền kinh tế thị trƣờng, ảnh hƣởng theo cách này hay cách khác gần nhƣ đến mọi quyết định và giao dịch kinh tế. Kỳ vọng có thể dẫn dắt hƣớng đi của toàn bộ nền kinh tế và có thể trở thành hiện tƣợng tự đáp ứng (self-fulfilling). Nếu những ngƣời gửi tiền kỳ vọng một ngân hàng thất bại, ngân hàng này rất có thể thất bại thật nếu những ngƣời gửi tiền hoảng loạn bắt đầu đồng loạt rút ồ ạt số tiền gửi của họ. Tƣơng tự, đối với một nền kinh tế nhƣ một tổng thể, kỳ vọng lạm phát có thể tạo ra trục trặc thực, và nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng suy thoái nếu số ngƣời nghĩ về điều đó đủ lớn và trở nên dao động.
Những dạng kỳ vọng này là mối quan tâm đặc biệt đối với các nhà kinh tế học vĩ mô. Kỳ vọng có thể đẩy thực tế kinh tế không chỉ đi vào xu hƣớng tiêu cực mà còn có thể đi vào xu hƣớng tích cực. Đôi lúc những kỳ vọng thuận lợi này tự chúng xuất hiện. Những lúc khác, nhiều nhà kinh tế học vĩ mô tin rằng chính phủ phải giúp tạo ra chúng bằng cách tạo sự tin cậy, tạo niềm tin ở công chúng.
Thực tế, quản lý kỳ vọng có thể là chức năng quan trọng nhất của chính sách kinh tế vĩ mô, ở cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. 1 Chƣơng trình giảng dạy Kinh tế Fulbright, Niên khóa 2011 – 2013, Kinh tế học vĩ mô, Chƣơng 3: Kỳ vọng (David A. Moss) 7 Kỳ vọng và lạm phát Một cách tự nhiên, không cá nhân cũng nhƣ doanh nghiệp nào muốn đứng về phía thiệt hại của lạm phát. Nếu những ngƣời công nhân kỳ vọng giá tiêu dùng tăng trong thời gian sắp tới, rất có thể họ sẽ yêu cầu có đƣợc tiền lƣơng cao hơn để bảo đảm tiền lƣơng thực của họ không giảm - đó là thu nhập sau khi điều chỉnh lạm phát.
Cùng một hiện tƣợng, nếu các doanh nghiệp kỳ vọng tiền lƣơng và giá các yếu tố đầu vào khác tăng, rất có thể họ sẽ cố gắng tăng giá để bảo đảm thu nhập của họ không giảm. Do vậy, giá và lƣơng trong thực tế sẽ tăng khi các cá nhân và các doanh nghiệp cố gắng bảo vệ chính mình chống lại sự gia tăng giá kỳ vọng. Theo cách này, kỳ vọng lạm phát có thể dẫn dắt thực tế một cách hết sức mạnh mẽ. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của bất kỳ ngân hàng trung ƣơng nào là thuyết phục công chúng rằng giá cả rất có thể không tăng nhiều trong tƣơng lai – hay nói theo cách khác là lạm phát sẽ thấp.
Muốn nhƣ vậy thì các ngân hàng trung ƣơng phải thực sự đáng tin cậy. Để cho kỳ vọng lạm phát thấp, công chúng phải tin rằng ngân hàng trung ƣơng sẽ chống lạm phát một cách hữu hiệu và kiên quyết vào thời điểm mà giá cả bắt đầu tăng quá mạnh. Ngƣợc lại, một ngân hàng trung ƣơng gánh chịu sự tin cậy thấp sẽ tìm thấy chính mình trong một mớ hỗn loạn, với áp lực lạm phát nổ ra ngấm ngầm mọi nơi mọi lúc. Lý do mà sự tin cậy dạng này khó đạt đƣợc là do việc chống lạm phát có thể phải trả một cái giá khá đắt, đó chính là sự đánh đổi để có đƣợc một mức lạm phát thấp vừa phải.
Để chống lạm phát, một ngân hàng trung ƣơng thƣờng phải tăng lãi suất (có thể liên quan đến việc cắt giảm, hay ít nhất là làm chậm tăng trƣởng cung tiền). Khi lãi suất tăng với chính sách tiền tệ thắt chặt hơn, tiêu dùng và đầu tƣ có thể chậm lại, vì các khoản vay cho tiêu dùng và kinh doanh trở nên đắt đỏ hơn. Sản lƣợng tự nó có thể tăng với nhịp độ chậm hơn, hoặc ngay cả việc thu hẹp sản xuất có thể diễn ra, và thất nghiệp rất có thể tăng lên. Nếu các nhà làm chính sách kết luận rằng lạm phát cao đang bị dẫn dắt bởi kỳ vọng lạm phát, thì việc kiểm soát tiền lƣơng và giá cả có lẽ đƣợc xem nhƣ một cách hiệu 8 quả để thay đổi kỳ vọng và vì vậy mà phá vỡ vòng xoắn lạm phát (điều này sẽ đúng trong trƣờng hợp chính phủ phải đáng tin cậy).
Tuy nhiên, kiểm soát giá và lƣơng có tính kết dính tạo ra những bóp méo không thể tránh khỏi trong nền kinh tế, vì vậy làm giảm hiệu quả tổng thể. Khi cung một loại hàng hóa giảm, ví dụ nhƣ dầu, giá của sản phẩm này thƣờng tăng lên, phát tín hiệu đến những nhà sản xuất sản xuất nhiều hơn và ngƣời tiêu dùng sẽ hoặc là duy trì tối thiểu việc sử dụng dầu, đồng thời tìm sản phẩm thay thế, hay đơn giản là phải chuẩn bị trả tiền nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu chính phủ cấm tăng giá, ngƣời mua sẽ tiếp tục tiêu dùng dầu chính xác nhƣ họ đã tiêu dùng trƣớc đây cho đến khi nào nó cạn kiệt, để lại những ngƣời khác không thể tiếp cận đƣợc với dầu. Nói cách khác, kiểm soát giá có thể trở nên hữu hiệu một cách tiềm tàng trong việc định hình kỳ vọng, nhƣng lại thƣờng đƣợc điều hành kém cõi, và ngay cả khi đƣợc điều hành tốt đi nữa, thì cũng có thể tạo ra tất cả các dạng thiệt hại kinh tế đi kèm.
Một giải pháp rõ ràng và đơn giản là cắt giảm tăng trƣởng tiền, làm cho guồng máy lạm phát thiếu năng lƣợng cần thiết để vận hành. Nhƣng thật không may, khi lạm phát cao kéo theo cầu tiền cao, một nỗ lực giảm mạnh cung tiền có thể tiềm tàng đẩy lãi suất cao vút và do vậy kích hoạt một sự thu hẹp kinh tế khốc liệt. Kỳ vọng và Sản lƣợng Dĩ nhiên, kỳ vọng cũng có thể ảnh hƣởng đến sản lƣợng thực. Nhà kinh tế học ngƣời Pháp J.
Say đã thừa nhận vào đầu thế kỷ thứ 19 rằng cung tạo ra cầu của chính nó – một tuyên bố chính thức đƣợc biết đến với tên gọi định luật Say. Vì sản xuất tạo ra thu nhập bằng với giá trị đầy đủ của sản phẩm đƣợc bán ra, tổng thu nhập sẽ luôn luôn đủ để mua tất cả sản lƣợng đƣợc sản xuất. Không may là kỳ vọng tiêu cực đôi lúc xâm nhập vào vòng chu chuyển hạnh phúc của sản xuất và tiêu dùng này. Nếu các cá nhân dự kiến thời kỳ khó khăn sắp xảy ra ngay ở phía trƣớc, họ có thể kìm lại các khoản chi tiêu của họ, bao gồm cả tiêu dùng và đầu tƣ, do vậy tạo ra một hố cách giữa GDP tiềm năng (cung khả thi – feasible supply) và GDP thực tế (cầu hữu hiệu - effective demand).
9 Kết quả là một vòng xoắn trôn ốc hƣớng xuống hiện rõ: vì lo lắng, ngƣời tiêu dùng quyết định tiết kiệm nhiều hơn và tiêu dùng ít đi, các doanh nghiệp sa thải công nhân và giảm đầu tƣ mới vì họ không thể sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ mà họ không thể bán đƣợc; gia tăng thất nghiệp là giảm thu nhập, từ đó làm cắt giảm cầu nhiều hơn và do vậy tiếp tục làm nhấn sâu hơn vòng xoắn hƣớng xuống. Dù năng lực sản xuất vẫn tồn tại, sản lƣợng giảm vì các nguồn lực sản xuất – cả con ngƣời và máy móc thiết bị - bị rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng để đối phó với sự suy sụp của phía cầu.