CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM. KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại. Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010): “Ngân hàng thương mại được định nghĩa là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Các hoạt động kinh doanh này bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Ngân hàng thương mại ra đời, phát triển trên cơ sở nền sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển và nền kinh tế càng ngày càng cần đến hoạt động của NHTM với các chức năng, vai trò của mình. Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã trở thành một bộ phận quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngân hàng thương mại là bộ phận lớn nhất trong hệ thống trung gian tài chính.
Từ đây ta thấy được NHTM đóng vai trò vô cùng to lớn trong hệ thống tài chính Việt Nam. Nazirul Islam Sarker: “Ngân hàng thương mại hiện tại là nhân vật chính của nền kinh tế vì nó tạo ra dòng chảy của nguồn lực. Tài chính là mạch máu của thương mại, thương mại đóng vai trò là cánh quạt trong việc luân chuyển tiền tệ trong nền kinh. Tầm quan trọng của các lĩnh vực ngân hàng là vô cùng to lớn đối với sự tiến bộ và phát triển phong phú của bất kỳ quốc gia nào.” Tại Việt Nam, NHTM có vai trò là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế. Bằng vốn huy động được từ trong nền kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời trong quá trình tái sản xuất. Tiếp theo là vai trò làm cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp cần duy trì hoạt động kinh doanh sẽ không 6 ngừng cải tiến, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng,.
Doanh nghiệp phát sinh các khoản chi phí từ những hoạt động này, do đó nhu cầu tài chính gia tăng khiến doanh nghiệp cần đến sự giúp đỡ của NHTM. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh. Sau đó, NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế. Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thương mại trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.
Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực hiện vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô: “Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”. Cuối cùng là vai trò làm cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài chính mỗi nước cũng phải hòa nhập với nền tài chính quốc tế và ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hòa nhập này.
Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác, NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Theo Thefiscaltimes (2018): “Khả năng sinh lời là một con số cho thấy khả năng tạo ra lợi nhuận trong một thời gian dài, giả sử các điều kiện hoạt động không đổi.” 7 Khả năng sinh lời là một chỉ số quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng (Zarrouk, 2012). KNSL được xem xét trên cơ sở kết hợp kết quả kinh doanh và nguồn lực sử dụng.
Khả năng sinh lời là nền tảng quan trọng giúp các NH đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm, từ đó kinh doanh hiệu quả. Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010): Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng. Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi của ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó. Những ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây ra những thua lỗ và nắm giữ những tài sản thanh khoản kém, cuối cùng sẽ mất khả năng thanh toán.
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng sinh lợi của mỗi ngân hàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển bền vững. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Để đánh giá khả năng sinh lời của NHTM cần dùng đến nhiều chỉ tiêu để đo lường. Tuy nhiên, theo lý thuyết khả năng sinh lời được đánh giá qua 3 chỉ tiêu là: ROA (Return on Asset), ROE (Return on Equity), NIM (Net Interest Margin).
Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng, ROA cho ta biết hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để kiếm lợi. Hay nói cách khác, ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
ROE được tính bằng cách lấy thu nhập sau thuế chia cho tổng vốn chủ sở hữu bình quân. Về mặt quản trị, tỷ lệ ROE phản ánh khả năng, mức độ tạo ra lợi nhuận ròng tạo ra trên vốn chủ sở hữu, đồng thời là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của một tổ chức đối với nhà đầu tư. Tỷ lệ thu nhập cận biên. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là chênh lệch giữa thu nhập giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, tất cả chia cho tổng tài sản có sinh lãi.
Hệ số NIM được các ngân hàng quan tâm vì nó giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lợi thông qua kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lợi và tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI. Theo các nghiên cứu trước đây của: Chen và Wei (2017), Javaid và Alalawi (2018), Malichov và Mária (2015), những người đã nghiên cứu ra kết quả rằng các yếu tố quyết định khả năng sinh lời của ngân hàng được phân thành hai nhóm: Nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài. Nhóm nhân tố bên trong được coi là các nhân tố thuộc về nội tại ngành ngân hàng và nhóm nhân tố bên ngoài ngành được gọi là nhóm kinh tế vĩ mô quyết định khả năng sinh lời của ngân hàng.
Các nhân tố bên trong ngành ngân hàng. Khả năng tài chính. Khả năng tài chính là yếu tố thể hiện quy mô hoạt động của ngân hàng. Quy mô ngân hàng là một nhân tố quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt trong hoạt động của các nhóm ngân hàng quy mô lớn so với những nhóm có quy mô nhỏ hơn.
Lý thuyết trung gian tài chính được đề xuất bởi Leland và Pyle (1977); Diamond (1984) với hai trụ cột chính là “thông tin bất cân xứng” và “chi phí giao dịch” đều nhấn mạnh về lợi ích khi quy mô ngân hàng lớn lên, giúp ngân hàng có thêm nhiều thông tin từ khách hàng. Lợi ích này giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro tổng thể, giúp cải thiện lợi nhuận sau điều chỉnh rủi ro và giúp ngân hàng trang trải các chi phí trong vai trò trung gian của mình. Đó chính là nền tảng của lợi thế đa dạng hóa của NHTM. Hughes và Mester (2013) cho rằng, các ngân hàng lớn ngày nay có hiệu quả cao theo quy mô vì chúng ngày càng biết tối ưu hóa chi phí dựa vào công nghệ và tận dụng các loại chi phí không tăng tương ứng theo quy mô.
Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu khác lại cho rằng đường chi phí trung bình của ngân hàng có hình chữ U, nghĩa là khả năng sinh lợi lúc đầu sẽ tăng cùng quy mô nhưng 9 sau đó sẽ giảm do chi phí dài hạn tăng khi quy mô tiếp tục tăng. Với một quy mô tài sản lớn sẽ đòi hỏi công tác quản trị tốt để giải quyết một các tốt nhất mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lợi trong một khoản mục tài sản. Vì vậy, quy mô ngân hàng có thể làm tăng hoặc giảm lợi nhuận ngân hàng. Bộ máy quản trị.
Việc giữ thị phần và phát triển kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Để có thể tự tin trụ vững và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng ngoại, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần thay đổi về tư duy quản trị ngân hàng hiện đại, đặc biệt là chú trọng đến vấn đề quản trị rủi ro và đáp ứng các tiêu chuẩn quản trị quốc tế. Đây chính là những vấn đề then chốt để dẫn đến thành công. Từ đây có thể thấy năng lực của bộ máy quản trị có ảnh hưởng to lớn đến KNSL của NH.
Khả năng thích ứng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và chính sách phát triển nguồn nhân lực.