Chương 1 khái quát lý do chọn đề tài, song song với mục tiêu thì xác định các nhiệm vụ cần phải giải quyết. Để hoàn thành được các câu hỏi, chương này đã trình bày phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu đóng góp của đề tài này cho các NHTM Việt Nam và định ra kết cấu của luận văn để tạo cơ sở trình bày cho các chương tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 2. Khái niệm nợ xấu Thuật ngữ “nợ xấu” (Non-Performing loans) có thể được thay thế bằng nợ khó đòi theo như Fofack (2005), hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997). Nợ xấu cũng có thể được định nghĩa là các khoản nợ không trả được (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ khoản vay đó. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Liên hợp quốc (Nhóm chuyên gia tư vấn – AEG) cho rằng khoản nợ xấu tại ngân hàng là khoản nợ của khách hàng khi lãi và gốc đã quá hạn trên 90 ngày.
Hay khoản lãi chưa được thanh toán từ 90 ngày trở lên và nhập gốc. Ngoài ra, qua đánh giá thì ngân hàng cho rằng khoản nợ này có khả năng không được thanh toán. Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng nợ xấu là khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng đã đến hạn thanh toán mà họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện, điều này làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi. Các khoản nợ này bị quá thời hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên.
Mặt khác, các TSĐB đem thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh tại ngân hàng sẽ được tiến hành thanh lý để xử lý nợ nhưng khả năng không đủ để bù đắp cho khoản nợ này. Ngoài ra, nợ xấu được xác định thông qua quy định chung của quốc tế và hiệu chỉnh theo tình hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia với hoạt động kinh doanh riêng của hệ thống NHTM. Theo TT11/2021/TTNHNN thì các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3,4,5 được xếp vào tính chất khó thu hồi hay dẫn đến không thu hồi được thì được xem là nợ xấu. Các khoản nợ này gia tăng thì các NHTM buộc phải đối diện với sự suy giảm tài sản, lợi nhuận lẫn uy tín của mình do bị đe dọa bởi các khoản thanh toán tiền gửi tiết kiệm khi đến hạn.
Tóm lại, tại luận văn này thì nợ xấu được hiểu là khoản nợ gốc và lãi của khách hàng bị quá hạn, tuy nhiên, trong các nhóm nợ quá hạn thì nợ xấu nằm ở nhóm 3,4,5 có nghĩa là các khoản nợ đã trên 90 ngày và chưa được thanh toán. Khi ngân 9 hàng có nợ xấu tăng cao thì sẽ đối mặt với những sự suy giảm về lợi nhuận, hiệu quả, uy tín hay chính là tài sản của ngân hàng. Phân loại nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì nợ xấu của các NHTM bắt nguồn từ nợ quá hạn và diễn tiến đến từng nhóm khi khách hàng bị nhảy nhóm nợ. Nợ quá hạn tại các NHTM được định nghĩa là một phần hay toàn bộ nợ gốc cho khách hàng vay đã quá ngày trả tại bất cứ lý do gì.
Theo thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập DPRRTD và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thì nợ quá hạn được xem là khoản cấp tín dụng bao gồm gốc và lãi có một phần hay toàn toàn bộ giá trị đã quá thời hạn thanh toán. Hay nói cách khác nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức vay của các NHTM không thể chi trả đúng hạn với gốc, lãi theo đúng như thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng. Mặc dù việc quá hạn này không được phép hay không đủ điều kiện để gia hạn nợ từ ngân hàng. Nợ quá hạn được chia thành 5 nhóm như sau: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì ngân hàng có thể thu hồi được cả “ gốc lẫn lãi như trên hợp đồng tín dụng.
Nhưng khoản nợ này có thể đã quá hạn thanh toán dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có thể thu hồi gốc và lãi hay lãi phạt quá hạn đúng ngày. Nhóm 2 (Nợ cần được chú ý): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 10 đến 90 ngày hoặc khoản nợ có sự điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ nhất. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 91 đến 180 ngày hoặc, nợ gia hạn lần thứ nhất. Với khoản nợ này thì ngân hàng có thể miễn giảm lãi cho khách hàng do không đủ khả năng chi trả lãi theo thỏa thuận ban đầu trên hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 181 đến 360 ngày. Nợ cơ cấu lần thứ nhất dưới 90 ngày theo thời hạn trả 10 nợ được cơ cấu lần thứ nhất và tiến hành cơ cấu lần thứ hai. ” Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất gốc): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi trên 360 ngày, nhóm nợ này thì các khoản cơ cấu lần thứ nhất và lần thứ hai không thể thanh toán được gốc lãi cho ngân hàng. Trong năm nhóm nợ liệt kê phía trên thì nợ xấu thuộc nhóm 3,4,5 có nghĩa là khách hàng không trả nợ với thời gian quá hạn bắt đầu từ 90 ngày trở lên.
Những nhóm nợ này buộc các NHTM phải tiến hành trích lập các khoản dự phòng để phòng ngừa cho các rủi ro và đảm bảo khả năng thanh toán các khoản tiền gửi huy động đến hạn của mình (Phan Thị Thu Hà, 2013). Vì vậy, nợ xấu được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng khoản cấp tín dụng và dấu hiệu đáng báo động của RRTD tại các NHTM. Chỉ tiêu nợ xấu được phản ánh như sau: Tỷ lệ nợ xấu = Tổngdưnợnhóm3,4,5 Tổngdưnợchovay 2. Nguyên nhân gây ra nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013) thì hoạt động tín dụng của NHTM được xem là xương sống của nền kinh tế, mặt khác hoạt động này đem lại lợi nhuận lớn nhất cho NHTM và nó gần như có mặt trong tất cả các khía cạnh của thị trường.
Do đó, nợ xấu xuất hiện không chỉ phát sinh từ nội bộ ngân hàng mà còn từ các khía cạnh khác ngoài tổ chức. Cụ thể đó là: 2. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Năng lực nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ ngân hàng: Có thể nói, nhân tố con người là nhân tố có vai trò đặc thù và chưa thể thay thế ở thời điểm hiện tại với bất kì một ngành nghề kinh doanh nào. Trong cục diện nền kinh tế, ngân hàng được coi là một ngành chủ chốt, có ảnh hưởng rất lớn đến việc lưu chuyển tiền tệ, làm tiền đề cho các hoạt động kinh doanh khác có cơ hội mở rộng phát triển.
Chính vì vậy, cán bộ ngân hàng đặc biệt là cán bộ tín dụng không chỉ cần có trình độ chuyên môn được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm xem xét khách hàng, đánh giá khoản vay, thẩm định, phương án cho vay hiệu quả, đảm bảo tuân 11 thủ theo các quy định pháp luật, luôn tỉnh táo trước những tình huống có thể xảy ra khi thực hiện nghiệp vụ cũng như đối mặt với khách hàng. Vấn đề về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ ngân hàng thực sự đáng quan tâm trong thời điểm hiện tại. Hiện nay, tình trạng tham nhũng nghiêm trọng đã xảy ra và nó đang trở thành nguyên nhân gốc rễ của nhiều vấn đề, đặc biệt là sự gia tăng của các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực tín dụng. Những vụ việc này có tiềm năng gây ra những tác động rất lớn.
Chẳng hạn, nhân viên ngân hàng có thể tham gia vào việc làm giả hồ sơ vay, tăng giá trị tài sản thế chấp lên mức không hợp lý so với giá trị thực tế, hoặc thậm chí đánh giá tài sản của một dự án khác thay vì tài sản cụ thể trong hồ sơ. Tất cả những việc này dẫn tới việc cung cấp tín dụng mà không đảm bảo hiệu quả, và bỏ qua việc đánh giá rủi ro liên quan đến khách hàng. Từ đó dẫn đến các khoản vay của ngân hàng rơi vào tình trạng mất vốn, chuyển nhóm nợ gây ra những thiệt hại không nhỏ đến uy tín và hoạt động của ngân hàng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn đảm bảo sự tin cậy từ phía khách hàng.
Để ngăn chặn tình trạng này, việc xây dựng và thực hiện các quy trình kiểm soát nội bộ cẩn thận và liên tục là cần thiết. Chính sách cho vay chưa rõ ràng, không phù hợp: Chính sách về việc cho vay của một ngân hàng được coi là phương châm hướng dẫn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó, cung cấp sự hỗ trợ quan trọng cho những nhân viên tín dụng trong việc xác định hướng đúng khi thực hiện các nhiệm vụ. Để tối ưu hóa hoạt động cho vay và giảm thiểu nợ xấu, cần thiết phải xây dựng chính sách cho vay thống nhất, toàn diện và phù hợp với từng đặc điểm riêng của từng ngân hàng, giúp nhân viên tín dụng xác định đúng hướng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trái lại, một chính sách tín dụng không đủ chi tiết, thiếu tính nhất quán và không đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng cũng như những biến đổi trong tình hình kinh tế - xã hội có thể dẫn đến những sai lầm trong hoạt động của nhân viên tín dụng, tạo điều kiện cho những cá nhân không trung thực tận dụng lỗ hổng pháp lý để chiếm đoạt nguồn vốn của ngân hàng, từ đó tạo ra tiềm năng rủi ro cho ngân hàng.
Hạn chế trong công tác giám sát, kiểm soát cho vay: Mục tiêu của hoạt động 12 giám sát, kiểm soát cho vay nhằm thực hiện việc kiểm tra các điều khoản cam kết của khách hàng vay với ngân hàng. Điều này sẽ làm phát hiện kịp thời những thay đổi có thể ảnh hưởng đến nguồn tiền trả nợ hay năng lực trả nợ của khách hàng. Nếu ngân hàng không thực hiện chặt chẽ quá trình kiểm tra, giám sát thì rủi ro tín dụng sẽ không được phát hiện và xử lý kịp thời, dẫn đến những vấn đề phát sinh rất khó lường trong tương lai.