Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan bằng chứng thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết Trong thời gian gần đây các lý thuyết liên quan đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng đã và đang đánh giá xem rằng có tồn tại hoặc không tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường lợi nhuận của các ngân hàng. Quan điểm kinh tế vi mô truyền thống cho rằng các ngân hàng tồn tại và thực hiện các quyết định nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận.
Dựa trên giả định truyền thống này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều dự đoán để có thể kiểm tra hành vi tối đa hóa lợi nhuận của các ngân hàng mà theo đó hiệu quả hoạt động của ngành có thể là nguyên nhân cho hành vi này. Bên cạnh đó, có nhiều lý thuyết đã được mô hình hóa nhằm giải thích hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, theo Rasiah (2010), lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất là lý thuyết có khả năng giải thích tốt nhất trong số các lý thuyết này. Một số lý thuyết khác bao gồm lý thuyết hiệu quả - cấu trúc và lý thuyết chi phí – ưa thích. Lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất Mason (1939) ban đầu đã đề xuất lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất và sau đó Bain (1951) đã điều chỉnh lại lý thuyết này.
Lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất dựa trên giả định rằng: khi có một ít ngân hàng nhưng chiếm thị phần cao trong thị trường, thì điều này sẽ tạo nên sự thông đồng giữa các ngân hàng trong ngành. Khả năng các ngân hàng thực hiện thông đồng với nhau sẽ tăng lên khi thị trường càng tập trung trong tay của một ít ngân hàng và tỷ lệ tập trung thị trường càng cao thì hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng càng cao (Gilbert, 1984). Lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất giả định một mối tương quan dương giữa mức độ tập trung thị phần và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng do vấn đề độc quyền 6 hoặc thông đồng, các ngân hàng kinh doanh trong một thị trường tập trung sẽ đạt được nhiều lợi nhuận nhiều hơn so với các ngân hàng kinh doanh trong một thị trường ít tập trung hơn (Lloyad – Williams và các cộng sự, 1994). Mối quan hệ giữa cấu trúc – thực thi – hiệu suất trong ngành ngân hàng đã được giải thích nhiều trong các đề tài nghiên cứu trước đây và đa số nghiên cứu thực nghiệm đều cung cấp các bằng chứng ủng hộ cho lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất.
Các nghiên cứu nổi bật nhất trong số các nghiên cứu ủng hộ cho lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất bao gồm Rose và Fraser (1976), Gilbert (1984) và Lloyad – Williams và các cộng sự (1994). Lloyad – Williams và các cộng sự (1994) đã kiểm tra ngành ngân hàng ở Tây Ban Nha và tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cho lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất. Gilbert (1984) cũng cho thấy 32 nghiên cứu trong tổng số 44 nghiên cứu trước đây đều tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cho việc thị trường tập trung sẽ có tác động tích cực và đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho rằng hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng không thể giải thích theo các lập luận của lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất.
Theo đó, nghiên cứu của Smirlock (1985) và Miller và VanHoose (1993) chính không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cho lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất hoặc bác bỏ giả thuyết thị trường tập trung có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Qua đây có thể thấy rằng ngành ngân hàng có tập trung vào một ít ngân hàng (các ngân hàng này có quy mô lớn) thì sẽ cải thiện hiệu quả kinh doanh. Do đó, quy mô ngân hàng sẽ có thể có tác động đáng kể đến hiệu quả kinh doanh bởi lẽ các ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ dễ dàng thông đồng với nhau. Khả năng các ngân hàng thực hiện thông đồng với nhau sẽ tăng lên khi thị trường càng tập trung trong tay của một ít ngân hàng có quy mô lớn và tỷ lệ tập trung thị trường càng cao thì hiệu quả hoạt động của các ngân hàng càng cao.
Lý thuyết hiệu quả - cấu trúc Lý thuyết Hiệu quả - Cấu trúc được lập luận bởi một số nhà nghiên cứu như là một kết quả của lý thuyết truyền thống Cấu trúc – Thực thi – Hiệu suất (Aguirre và các cộng sự, 2008), tuy nhiên, lý thuyết Hiệu quả - cấu trúc lại được xem như là một thách thức và thay thế cho lý thuyết Cấu trúc – Thực thi – Hiệu suất (Demsetz, 1973; McGee, 1984). Lý thuyết Hiệu quả - Cấu trúc cho rằng các ngân hàng có hiệu quả quy mô càng cao và hiệu quả quản lý càng tốt thì sẽ có thể làm gia tăng quy mô và thị phần của họ trong thị trường mà họ hoạt động bởi vì khả năng tạo ra thu nhập của các ngân hàng này sẽ cao tương đối hơn so với các ngân hàng khác (Demsetz, 1973). Động lực chính đối với quá trình đạt được thị phần lớn chính là hiệu quả của ngân hàng. Các ngân hàng có hiệu quả nhất sẽ đạt được thị phần và thu được lợi nhuận kinh tế tương đối cao hơn so với các ngân hàng khác (Samad, 2008).
Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành nhằm kiểm tra lý thuyết Hiệu quả - Cấu trúc có thể giải thích hiệu quả kinh doanh và thu nhập của các ngân hàng hay không. Theo Rasiah (2010), thì Smirlock (1985) là nhà nghiên cứu đầu tiên phân tích lý thuyết Hiệu quả - Cấu trúc trong ngành ngân hàng ở Mỹ và không tìm thấy kết quả thực nghiệm nào cho thấy mối tương quan đáng kể giữa mức độ tập trung của ngành ngân hàng và lợi nhuận nhưng lại cho thấy mối tương quan đáng kể giữa thị phần và lợi nhuận của các ngân hàng. Tác giả lập luận rằng mức độ tập trung thị trường không phải là một sự kiện ngẫu nhiên mà là kêt quả của các ngân hàng có hiệu quả vượt trợi hơn các ngân hàng khác bằng cách đạt được một thị phần lớn trong thị trường. Một số nghiên cứu thực nghiệm khác như Gillini và các cộng sự (1984) và Evanoff và Fortier (1988) đã kiểm tra cả hai lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu suất và lý thuyết hiệu quả - cấu trúc và tìm thấy rằng yếu tố hiệu quả của ngân hàng là yếu tố quan trọng có thể ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của ngân hàng đang kinh doanh ở Mỹ.
8 Qua đây có thể thấy rằng khi ngân hàng chiếm thị phần càng lớn thì sẽ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn. Mà hoạt động của các ngân hàng chủ yếu xuất phát từ hoạt động kinh doanh truyền thống (huy động và cho vay) và hoạt động kinh doanh phi truyền thống. Do đó, luận văn cho rằng cho vay và đa dạng hóa thu nhập sẽ có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Lý thuyết chi phí – ưa thích Lý thuyết chi phí – ưa thích được phát triển như một phần mở rộng cho “lý thuyết về ngân hàng” (Blair và Placone, 1988).
Lý thuyết này cho rằng các nhà quản trị của các ngân hàng sẽ tối đa hóa lợi ích thay vì tối đa hóa lợi nhuận như mong muốn của các cổ đông và các nhà quản trị có khuynh hướng ưa thích việc chi tiêu vào các khoản mục như nâng cao quy mô nhân viên (chi lương), nội thất văn phòng làm việc, và sự sang trọng của không gian của ngân hàng (Hannan và Mavinga, 1980). Trường hợp này sẽ xảy ra càng nhiều khi có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát của ngân hàng cũng như sự không hoàn hảo của thị trường hàng hóa và vốn (Hannan và Mavinga, 1980). Lý thuyết này đã được kiểm định rộng rãi trong các ngành nghề khác nhau bao gồm ngành tiện ích, ngân hàng, tổ chức tài chính… (Edwards, 1977; Hannan và Mavinga, 1980; Blair và Placone, 1988). Trong đó Edwards (1977) tìm thấy rằng quy mô nhân viên, chi phí lương và thưởng trong ngành ngân hàng sẽ gia tăng theo sức mạnh độc quyền ở Mỹ và điều này cho thấy sự tồn tại của lý thuyết chi phí – ưa thích.
Giống như vậy, Hannan và Mavinga (1980) và Verbugge và Jahera (1981) đã ủng hộ lý thuyết này bằng cách kiểm định tương tự với phương pháp tiếp cận của Edwards (1977) và kết luận giống như nghiên cứu trước đây khi cho rằng số lượng nhân viên của ngân hàng trong thị trường có sức mạnh độc quyền dường như cao hơn so với số lượng nhân viên của các ngân hàng hoạt động kinh doanh trong một môi trường có tính cạnh tranh cao. 9 Qua đây có thể thấy rằng chi phí sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Do đó, luận văn cho rằng chi phí hoạt động và chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Các yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng 2.
Hiệu quả chi phí Hiệu quả chi phí đo lường mức độ chi phí mà ngân hàng đang sử dụng để trang trải cho các hoạt động kinh doanh nhằm đạt được thu nhập cho ngân hàng, trong đó các loại chi phí này không liên quan với chi phí từ lãi của ngân hàng. Các ngân hàng càng có hiệu quả chi phí càng cao, chi phí hoạt động càng thấp thì có khả năng tạo ra thu nhập nhiều hơn bằng cách khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Do đó việc cải thiện hiệu quả chi phí luôn là yếu tố quan trọng để các ngân hàng có thể cải thiện tính cạnh tranh của ngân hàng so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Cách tốt nhất để cải thiện hiệu quả chi phí là cải tiến công nghệ và mở rộng quy mô.
Bằng vào việc mở rộng quy mô ngân hàng, các ngân hàng có thể giảm thiểu chi phí hoạt động và gia tăng hiệu quả chi phí bằng cách khai thác tốt hiệu quả quy mô nền kinh tế.