CHƯƠNG 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại Để đưa ra một định nghĩa về Ngân hàng thương mại (NHTM), người ta thường căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Nhà kinh tế học David Begg định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính, có giấy phép kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thể phát hành séc”. Theo luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 đã định nghĩa: “được coi là Ngân hàng là những xí nghiệp dưới hình thức cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngày nay, có rất nhiều tổ chức hoạt động trên một hoặc một số khía cạnh của NHTM. Kết quả của một số cuộc điều tra về dịch vụ ngân hàng đã cho thấy, NHTM đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ trong chức năng và hình thức. Tóm lại, NHTM là một định chế tài chính trung gian kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, cũng là nơi thu hút vốn nhàn rỗi từ dân cư mà hoạt động chủ yếu, thường xuyên là cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng như các tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể, cá nhân,… nhằm một trong các mục tiêu quan trọng là tối đa hóa lợi nhuận. Người ta phân biệt NHTM với các tổ chức môi giới tài chính khác ở chỗ NHTM là tổ chức chuyên kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư trong xã hội và tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của Chính phủ… chính từ 4 hoạt động đó đã tạo điều kiện cho các NHTM tăng gấp nhiều lần số vốn thực có để đưa vào các hoạt động kinh doanh của mình.
Đó là đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các tổ chức tài chính khác. Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, hệ thống các NHTM đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc vận hành và “bôi trơn” hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại NHTM là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế. Có thể chia ra thành 03 nhóm hoạt động chính là hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động trung gian (dịch vụ ngân hàng). Huy động vốn là hoạt động tiền đề, có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với bản thân xã hội.
Huy động vốn của NHTM bao gồm huy động từ tiền gửi và thông qua phát hành giấy tờ có giá. Hoạt động trung gian (dịch vụ ngân hàng) hiện nay ngày càng phát triển và đa dạng như bảo lãnh, dịch vụ thanh toán; kinh doanh ngoại hối, hoạt động dịch vụ đầu tư, tư vấn tài chính, …Bên cạnh đó, với sự phát triển của công nghệ thông tin các dịch vụ mới như dịch vụ thẻ, internet banking,… cũng phát triển khá mạnh mẽ. Hoạt động sử dụng vốn bao gồm hai hoạt động quan trọng, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM đó là hoạt động đầu tư và hoạt động cho vay. Hoạt động đầu tư là việc ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như: góp vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, góp vốn mua cổ phần chỉ được thực hiện bằng vốn của ngân hàng; mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty, … Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM và sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về hoạt động này.
Theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng định nghĩa : “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên 5 tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Như vậy cho vay được hiểu như sau: Cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là các NHTM (Người cho vay) còn bên kia là khách hàng vay vốn (Người vay), trong đó ngân hàng giao tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết khách hàng trả cả gốc và lãi cho ngân hàng vô điều kiện khi đến hạn thanh toán. Các hình thức cho vay: Trong nền kinh tế hiện đại, hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại có phạm vi rộng lớn và đa dạng. Tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của NHTM mà người ta phân loại hoạt động cho vay theo nhiều tiêu thức khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại: * Phân loại theo thời gian: Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
Theo thời gian cho vay của ngân hàng được phân chia thành: - Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Mục đích là đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về mua nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng, thanh toán của cá nhân có giá trị nhỏ. - Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 12 tháng và không quá 60 tháng. Mục đích vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích là sử dụng vốn vay gần như khoản vay trung hạn nhưng với những công trình quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn. * Phân loại theo phương thức cho vay: 6 - Cho vay từng lần Cho vay từng lần là phương thức cho vay mà ngân hàng thường áp dụng cho vay những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên hoặc những khách hàng có vòng quay vốn lưu động thấp, khách hàng là cá thể. Mỗi lần vay vốn ngân hàng và khách hàng tiến hành lập một bộ hồ sơ riêng, thống nhất một mức vay cố định, khách hàng có thể rút vốn làm nhiều lần nhưng tổng số tiền giải ngân phải nằm trong phạm vi thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng.
Phương thức cho vay từng lần thường áp dụng khi cho vay trung, dài hạn, cho vay các thương vụ độc lập. - Cho vay theo hạn mức tín dụng Cho vay theo hạn mức tín dụng là cách thức cho vay bằng cách ngân hàng xác định cho khách hàng của mình một hạn mức tín dụng trong khoảng thời gian nhất định. Theo phương thức này, khách hàng và ngân hàng thỏa thuận với nhau một mức dư nợ tối đa mà khách hàng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong phạm vi hạn mức tín dụng về dư nợ khách hàng có thể rút vốn và trả nợ làm nhiều lần nhưng không được vượt quá hạn mức dư nợ đã thoả thuận với ngân hàng.
Hồ sơ cho vay Theo hạn mức tín dụng được lập một lần trong suốt thời gian của hạn mức tín dụng. Mỗi lần rút vốn khách hàng chỉ cần lập giấy nhận nợ mà thôi. Thời gian duy trì hạn mức tín dụng thông thường là một năm. Hết thời hạn hạn mức tín dụng ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá lại quá trình vay vốn, nếu thấy vốn an toàn và hiệu quả, ngân hàng có thể gia hạn hạn mức tín dụng.
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường áp dụng đối với các khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và vay vốn ngắn hạn. Phương thức cho vay này áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn (thường xuyên) với ngân hàng, khách hàng có vòng quay vốn lưu động cao. - Phương thức cho vay theo dự án đầu tư Phương thức này được áp dụng đối với khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đấu tư phục vụ đời sống. Ngân 7 hàng cùng khách hàng cùng kí hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ trả nợ.
Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án. - Cho vay hợp vốn. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành văn bản hướng dẫn và các thoả thuận giữa các tổ chức tham gia đồng tài trợ. - Cho vay trả góp.
Phương thức này khi cho vay, Ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ trong thời hạn cho vay. - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng. Khi cho vay theo phương này thì ngân hàng cho vay và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng: hạn mức tín dụng dự phòng thời hạn hiệu lực của tín dụng dự phòng: ngân hàng cho vay cam kết đáp ứng nguồn vốn cho khách hàng bằng Việt Nam đồng hoặc ngoại tệ. Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng không hết hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết tính cho hạnn mức tín dụng dự phòng đó.
Mức phí này phải được thoả thuận giữa khách hàng và Ngân hàng. - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.