Chương I tổng quát vấn đề nghiên cứu nhằm nêu bật lên các nhân tố tác 10 động đến tỷ số nợ của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015. Qua đó, tác giả cũng phác thảo sơ lược mục tiêu mà đề tài hướng đến nhằm đánh giá mức độ tác động và xây dựng mô hình hồi quy ước lượng của các nhân tố tác động đến hệ số nợ. Trên cơ sở đó trong chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình mục tiêu dựa trên việc kế thừa các mô hình nghiên cứu trước đây nhưng có sự chọn lọc phù hợp. 11 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SỐ NỢ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 2.
Giới thiệu chƣơng Chương II trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu như lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm của Modigliani và Miller, lý thuyết đánh đổi, lý thuyết tín hiệu và trật tự phân hạng. Bên cạnh đó, chương này cũng tham khảo các nghiên cứu trước đây của nhiều tác giả từ Hoa Kỳ, nhóm nước G- 7, đến Nigeria, Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc trong việc xây dựng biến độc lập, biến phụ thuộc, tương quan giữa các biến và mô hình nghiên cứu dự kiến. Nền tảng lý thuyết về vấn đề nghiên cứu 2. Lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm của Modigliani và Miller Đây là nghiên cứu khởi đầu cho các nghiên cứu về cấu trúc vốn hiện đại do Modigliani & Miller (M&M) đưa ra vào năm 1958.
Với hai trường hợp được nghiên cứu là DN hoạt động trong môi trường không thuế và trong môi trường có thuế. M&M đã đưa ra các kết luận quan trọng về cấu trúc vốn của DN. Đó là trong trường hợp không thuế giá trị công ty không vay nợ và có vay nợ là như nhau, hay nói một cách khác cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị công ty và không có cấu trúc vốn nào là tối ưu cả. Còn trong trường hợp có thuế thì giá trị công ty có vay nợ cao hơn giá trị công ty không vay nợ do được hưởng lợi ích từ lá chắn thuế.
Các kết luận trên được đưa ra dựa trên giả định về thị trường hoàn hảo, không có thuế TNDN & thuế TNCN, không có chi phí giao dịch, không có chi phí phá sản và chi phí kiệt quệ tài chính, lãi suất tiền gửi của cá nhân và DN là như nhau. Tuy nhiên, các giả định trên khó có thể xảy ra nên đã hạn chế khả năng ứng dụng của lý thuyết M&M trong thực tế. Lý thuyết đánh đổi (Trade off Theory) Được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973) cho rằng nhà quản trị của DN có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị công ty dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ. Lợi ích từ nợ là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay.
Còn chi phí tiềm ẩn từ việc sử dụng nợ là chi phí kiệt quệ tài chính (Financial Distress Cost) bao gồm: các chi phí như chi phí trả cho luật sư giải quyết phá sản, chi phí trả cho kế toán và nhân viên quản trị công ty trong quá trình chờ phá sản, chi phí do mất khách hàng mất đi cơ hội hợp tác, hủy hợp đồng khi biết DN đang đối diện với việc phá sản và làm ăn thua lỗ không đủ khả năng tài chính để trả khoản nợ đã vay ngân hàng và nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay chi phí đại diện… Nhiệm vụ của các giám đốc DN là phải quyết định giữa việc đánh đổi lợi ích từ lá chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính từ việc vay nợ. Lý thuyết đánh đổi được viết dưới dạng công thức như sau: Giá trị Giá trị DN được tài trợ Giá trị hiện tại của Chi phí phá = + - DN bằng vốn cổ phần khoản lợi thuế sản kỳ vọng Thông qua lý thuyết đánh đổi đã giải thích được các khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành. Ví dụ các công ty công nghệ cao, không có tài sản cố định hay tài sản chủ yếu là vô hình (các phần mềm…) thường có đòn bẩy tài chính thấp nhưng các hãng hàng không có thể vay nhiều vì tài sản của họ là hữu hình và tương đối an toàn. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (The Asymmetric Information Theory) 2.
Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) Theo lý thuyết tín hiệu, việc lựa chọn cơ cấu vốn của một DN có thể là dấu hiệu cho người đầu tư bên ngoài về thông tin của người bên trong DN. Cũng theo lý thuyết tín hiệu thì thị trường sẽ phản ứng tiêu cực đối với các hoạt động làm 13 giảm đòn bẩy và phản ứng tích cực đối với các hoạt động làm tăng đòn bẩy. Theo đó, một DN phát hành nợ chứng tỏ DN đang có cơ hội tăng trưởng cao. Mặt khác, khi DN phát hành cổ phiếu chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của DN đang có xu hướng giảm, thị trường sẽ phản ứng tiêu cực lại với hoạt động này của DN, có thể làm giảm giá trị của DN trên thị trường cổ phiếu.
Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) Thứ nhất, lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Stewart Myers và Nicolas Majluf (1984) lý giải các quyết định đầu tư và tài trợ của DN dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng. Bởi vì các nhà quản trị hiểu rõ hơn các nhà đầu tư bên ngoài về tình hình kinh doanh của công ty cũng như khả năng sinh lợi của dự án trong tương lai. Do đó, nếu các dự án có triển vọng, đem lại lợi nhuận cao thì cách tài trợ tốt nhất là dùng nguồn sẵn có từ lợi nhuận giữ lại. Trong trường hợp nguồn này không đủ thì nguồn vốn vay với lãi suất cố định thường thấp hơn tỷ suất sinh lời của dự án sẽ được lựa chọn để không phải chia sẻ lợi nhuận với các cổ đông mới.
Thứ hai, theo lý thuyết trật tự phân hạng, không có một hỗn hợp nợ và vốn cổ phần mục tiêu nào được xác định rõ. Myers cho rằng khó có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu bởi vì vốn chủ sở hữu lần lượt được xếp ở vị trí đầu tiên (lợi nhuận giữ lại) và cuối cùng (phát hành cổ phần mới) trong trật tự phân hạng. Hay nói cách khác theo lý thuyết về trật tự phân hạng thì công ty sẽ ưu tiên tài trợ vốn từ nguồn vốn nội bộ trước, chủ yếu là lợi nhuận sau thuế được giữ lại để tái đầu tư, rồi mới phát hành nợ vay. Phát hành cổ phần thường là giải pháp cuối cùng khi công ty đã sử dụng hết khoản lợi nhuận giữ lại và không còn khả năng vay nợ.
Thứ ba, thông qua lý thuyết trật tự phân hạng giúp giải thích (1) tại sao các DN có khả năng sinh lợi nhất thường vay ít hơn vì họ không cần nguồn tài trợ từ bên ngoài. Ngược lại, các DN có khả năng sinh lời ít hơn phát hành nợ vì họ không có nguồn vốn nội bộ đủ cho đầu tư vốn và theo trật tự tài trợ thì vay nợ chỉ đứng sau lợi nhuận giữ lại. (2) Lý giải hành vi quản trị, đó là các DN có khả năng 14 sinh lời cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng duy trì tỷ lệ nợ mục tiêu thấp trong khi các DN có cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn vốn nội bộ dồi dào buộc phải tăng sử dụng đòn bẩy tài chính. (3) Dự báo các thay đổi trong tỷ lệ nợ của nhiều DN ở giai đoạn phát triển ổn định.
Tỷ lệ nợ tăng khi các DN có thâm hụt tài chính và giảm khi có thặng dư tài chính. Lƣợc khảo một số nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây Nhìn chung, sau khi lược khảo một số nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam, tác giả có thể đưa ra một số tóm tắt như sau: Các nghiên cứu trên thế giới: Pandey 2004 - bài nghiên cứu thực nghiệm sử dụng số liệu gồm 208 công ty tại Malaysia trong giai đoạn 1994 – 2000. Bài nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn được đo lường bằng tỷ số nợ (tổng nợ/ tổng tài sản), cơ hội tăng trưởng được đo lường bằng tỷ số Tobin Q. Tác giả kết luận mối quan hệ phi tuyến giữa cơ hội tăng trưởng và nợ.
Đồng thời tác giả cũng phát hiện ra mối quan hệ đồng biến (+) của quy mô công ty, tài sản cố định và cấu trúc vốn. Các công ty có quy mô càng lớn thì sử dụng nợ càng nhiều, kết quả này cũng cho thấy các công ty có tài sản cố định càng nhiều, giá trị tài sản càng lớn thì càng có khả năng vay nợ nhiều. Gaud 2005 - tác giả phân tích 104 công ty niêm yết trên TTCK tại Thụy Sĩ giai đoạn năm 1991 – 2000 kết quả phân tích mô hình dynamic kết hợp GMM cho thấy các yếu tố tác động đến cơ cấu vốn như: quy mô công ty, tài sản cố định hữu hình có quan hệ đồng biến (+) với tỷ lệ nợ, trong khi đó cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận tương quan nghịch biến (-) với đòn bẩy nợ. Kết quả nghiên cứu này cho thấy có sự tồn tại tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu mục tiêu đồng thời cũng phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi khi các công ty có lợi nhuận giữ lại nhiều, họ sẽ ưu tiên sử dụng nguồn vốn này để tái đầu tư, tạo cơ hội phát triển cho công ty hơn là sử dụng nợ vay.
15 Raijan và Zingales 1995 - bài nghiên cứu thực hiện trong nhóm các nước thuộc G-7, tác giả cũng cho ra kết quả tương tự của Pandey 2004, tuy nhiên bài nghiên cứu đánh giá đòn bẩy nợ tại các quốc gia khác nhau và đòn bẩy nợ được đo lường bởi hai biến giá trị sổ sách của nợ và giá trị thị trường của nợ. Biến cơ hội tăng trưởng được tính bằng tỷ số (giá trị sổ sách của tài sản – giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu + giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu)/ giá trị sổ sách của tổng tài sản. Ngoài ra các biến độc lập khác như: lợi nhuận được tính bằng tỷ số lợi nhuận trước thuế/ giá trị sổ sách của tổng tài sản. Biến tỷ lệ tài sản cố định hữu hình là tỷ số giữa tài sản cố định hữu hình và tổng tài sản.