chương 1 tác giả tìm hiểu về các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Có thể thấy đề tài về các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư chứng khoán luôn được các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu đối với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân Việt Nam”. Thị trường chứng khoán luôn thay đổi, quan điểm về đầu tư của NĐT thay đổi, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT cũng thay đổi theo vì vậy nghiên cứu sẽ đưa thêm các nhân tố mới để kiểm nghiệm mức độ tác động đến quyết định đầu tư, trong đó có yếu tố công nghệ.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 2. Những vấn đề cơ bản về đầu tư chứng khoán 2. Khái niệm về đầu tư chứng khoán Theo Kevin A. Hassett (2008) cho rằng đầu tư thường là kết quả của việc từ bỏ tiêu dùng.
Trong một xã hội thuần nông, con người nguyên thủy phải chọn bao nhiêu ngũ cốc để ăn sau vụ thu hoạch và bao nhiêu để tiết kiệm cho việc trồng trọt trong tương lai. Trong một xã hội hiện đại hơn, chúng ta phân bổ năng lực sản xuất của mình để sản xuất hàng tiêu dùng thuần túy như bánh mì kẹp thịt và xúc xích và hàng hóa đầu tư như xưởng đúc chất bán dẫn. Nếu chúng ta tạo ra những chiếc bánh mì kẹp thịt trị giá một đô la ngày hôm nay, thì tổng sản phẩm quốc gia của chúng ta sẽ cao hơn một đô la. Nếu chúng ta tạo ra xưởng đúc chất bán dẫn trị giá một đô la ngày hôm nay, tổng sản phẩm quốc gia sẽ cao hơn một đô la, nhưng nó cũng sẽ cao hơn vào năm tới vì xưởng đúc vẫn sẽ sản xuất chip máy tính rất lâu sau khi bánh hamburger biến mất.
Đây là cách đầu tư dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Theo Tô Kim Ngọc và Trần Thị Xuân Anh (biên soạn, 2020) cho rằng: Đầu tư nói chung là một hình thức bỏ vốn vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm thu được những lợi ích kỳ vọng trong tương lai. Nguồn vốn đầu tư không chỉ đơn thuần là các tài sản hữu hình như tiền vốn, đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, hàng hóa, … mà còn bao gồm các loại tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại, quyền thăm dò khai thác, sử dụng tài nguyên. Đầu tư chứng khoán hay còn gọi là đầu tư tài chính được thể hiện dưới hình thức người đầu tư bỏ tiền mua các công cụ tài chính nhằm mục đích hưởng các khoản thu nhập định kỳ hoặc lãi vốn do việc tăng giá của các công cụ đó.
Khác với hình thức đầu tư trực tiếp tài sản thực, khi người đầu tư bỏ tiền mua sắm tài sản hữu hình hay vô hình để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và thu lợi trên cơ sở chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sản xuất; đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư gián tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tại đó NĐT cam kết bỏ vốn mua và nắm giữ các tài sản tài chính trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được các khoản thu nhập trong tương lai dưới dạng cổ tức, trái tức tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. 10 Tuy vậy, giữa đầu tư tài chính và đầu tư tài sản thực có mối quan hệ chặt chẽ. Khi tài sản thực được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra dòng thu nhập, khoản thu nhập này được phân bổ cho NĐT theo tỷ lệ nắm giữ tài sản tài chính của họ hoặc chứng khoán được phát hành. Ví dụ, người nắm giữ trái phiếu sẽ được hưởng một phần dòng thu nhập dựa trên lãi suất và mệnh giá trái phiếu.
Người nắm giữ cổ phiếu hoặc cổ đông có quyền đối với dòng thu nhập còn lại của doanh nghiệp sau khi người nắm giữ trái phiếu và các chủ nợ khác của doanh nghiệp được thanh toán đầy đủ. Theo cách phân bổ thu nhập này, giá trị tài sản tài chính xuất phát và phụ thuộc vào giá trị tài sản thực được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tài sản thực tạo ra hàng hóa và dịch vụ, trong khi tài sản tài chính được xem là sự phân bổ thu nhập hoặc của cải giữa các nhà đầu tư. Nhà đầu tư cá nhân có thể lựa chọn giữa tiêu dùng thu nhập, của cải ngày hôm nay hoặc đầu tư cho tương lai.
Khi họ đầu tư cho tương lai, họ có thể lựa chọn nắm giữ tài sản tài chính. Số tiền doanh nghiệp nhận được khi phát hành chứng khoán (bán chứng khoán cho NĐT) được sử dụng để mua tài sản thực. Cuối cùng, thu nhập từ tài sản thực cũng là nguồn thu nhập của tài sản tài chính. Do đó, tài sản tài chính được xem là một công cụ đầu tư và NĐT được quyền hưởng thu nhập trên tài sản thực trong một nền kinh tế phát triển.
Ví dụ, hầu hết chúng ta không thể tự mình sở hữu doanh nghiệp sản xuất máy tính (tài sản thực) nhưng chúng ta có thể nắm giữ cổ phiếu của Apple hoặc Dell (tài sản tài chính) và những cổ phiếu này mang đến thu nhập từ việc bán sản phẩm máy tính của doanh nghiệp. Việc lựa chọn và quyết định mua chứng khoán là quá trình đầu tư tài chính. Quy trình và nguyên tắc đầu tư chứng khoán được quyết định bởi môi trường đầu tư chứng khoán, thể hiện qua đặc điểm của chứng khoán và thị trường chứng khoán, hệ thống giao dịch chứng khoán. Tóm lại, đầu tư chứng khoán là việc bỏ vốn vào một lĩnh vực nào đó để nhằm đạt được mục tiêu xác định.
Tương ứng với tính chất bỏ vốn và mục tiêu đầu tư, đầu tư bao gồm nhiều loại như: đầu tư cho tiêu dùng và đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư của Chính phủ và đầu tư của cá nhân, đầu tư không vì mục tiêu lợi nhuận và đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận, … Đầu tư chứng khoán là một trong những loại đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm của đầu tư chứng khoán Theo Tô Kim Ngọc và Trần Thị Xuân Anh (biên soạn, 2020) cho rằng: Thứ nhất, đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư tài chính linh hoạt do các chứng khoán thường có tính thanh khoản khá cao. Xuất phát từ tính thanh khoản của chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể linh hoạt trong việc đầu tư và rút vốn đầu tư dưới hình thức mua và bán chứng khoán trên thị trường. Thứ hai, so với việc gửi tiết kiệm, đầu tư chứng khoán thường đem lại mức lợi nhuận kỳ vọng cao hơn nhưng rủi ro tiềm ẩn cũng cao hơn.
Với đặc trưng này, đầu tư chứng khoán phù hợp hơn với các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro để có mức thu nhập kỳ vọng cao. Thứ ba, đầu tư chứng khoán được thực hiện ở kênh tài chính trực tiếp nhưng các giao dịch này thường được thực hiện thông qua các trung gian. Các hình thức đầu tư chứng khoán Có nhiều hình thức đầu tư chứng khoán khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại theo Tô Kim Ngọc và Trần Thị Xuân Anh (biên soạn, 2020) cho rằng: Thứ nhất, căn cứ vào công cụ đầu tư, đầu tư chứng khoán bao gồm: đầu tư cổ phiếu, đầu tư trái phiếu của doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương, đầu tư chứng chỉ quỹ đầu tư, đầu tư các chứng khoán phái sinh. Thứ hai, căn cứ vào mục đích đầu tư, đầu tư chứng khoán bao gồm: đầu tư nhằm hưởng lợi ích về kinh tế (cổ tức, trái tức, lãi vốn), đầu tư nhằm nắm giữ quyền quản lý kiểm soát tổ chức phát hành.
Thứ ba, căn cứ theo các thức đầu tư, đầu tư chứng khoán bao gồm: đầu tư trực tiếp (tự đầu tư) và đầu tư gián tiếp thông qua các quỹ đầu tư (đầu tư ủy thác). Thứ tư, căn cứ vào thời gian đầu tư, đầu tư chứng khoán bao gồm đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn. Vai trò của đầu tư chứng khoán Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động đầu tư chứng khoán trong phát triển kinh tế. Theo Warren Buffett (1978), khi đầu tư vào chứng khoán chúng ta không chỉ đơn thuần là mua cổ phiếu mà chúng ta mua quyền sở hữu của công ty đó.
Vì vậy, có thể hiểu rằng việc sở hữu cổ phiếu của công ty phát hành đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ được hưởng 12 những lợi ích mà công ty đó mang đến trong tương lai. Qua đây có thể thấy đầu tư chứng khoán có vai trò vô cùng quan trọng. Đối với nhà đầu tư: Thứ nhất, đầu tư chứng khoán mang lại khả năng sinh lời cao và tạo nguồn thu nhập thụ động hấp dẫn. Khoản thu nhập thụ động từ đầu tư chứng khoán có thể tạo ra số tiền lớn trong tương lai nếu mỗi người đầu tư đủ thời gian và kỷ luật.
Thứ hai, đầu tư chứng khoán giúp tăng khả năng hiện thực hóa các mục tiêu tài chính lớn. Trong lộ trình kế hoạch tài chính cá nhân mỗi người đều đặt ra nhiều mục tiêu tài chính khác nhau. Tuy nhiên với thu nhập trung bình của người Việt Nam việc hiện thực hóa chúng là một hành trình khó khăn và cần nhiều thời gian. Vì vậy đầu tư chứng khoán là cách nhanh nhất để NĐT có thể gia tăng cơ hội hiện thực hóa các mục tiêu tài chính.
Thứ ba, đầu tư chứng khoán sẽ giúp hạn chế sự mất giá của đồng tiền do lạm phát. Một trong những cách quản lý dòng tiền là không giữ tiền mặt bên mình. Đầu tư chứng khoán sẽ giúp NĐT gia tăng tài sản và bảo vệ tiền không bị mất giá theo thời gian. Đối với doanh nghiệp Đầu tư chứng khoán là ngày càng chiếm tỷ trọng cao và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp.
DN có thể thực hiện đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, … bên cạnh các hình thức đầu tư khác để gia tăng lợi nhuận cho DN. Đối với nền kinh tế Nhà đầu tư tham gia đầu tư trên TTCK góp phần kích hoạt dòng tiền đầu tư của toàn xã hội.