CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀKHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Theo định nghĩa trong Luật các Tổ chức tín dụng ban hành ngày 16/06/2010, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các ngân hàng thương mại tiến hành hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau để có được nguồn thu, đồng thời kiểm soát thận trọng chi phí để lợi nhuận có thể đạt được như kỳ vọng của cổ đông và nhà quản trị. Bên cạnh đó, ngân hàng cần kiểm soát chặt chẽ rủi ro, quản lý thận trọng danh mục đầu tư, đảm bảo khả năng thanh khoản trong suốt quá trình hoạt động. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng.
Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triển vọng phát triển trong tương lai. Khi phân tích chỉ tiêu lợi nhuận cần phải kết hợp với các chỉ tiêu khác như khả năng thanh khoản, mức độ chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản cũng như kế hoạch phát triển lâu dài của ngân hàng. Để đo lường khả năng sinh lời, các ngân hàng cần phải xem xét mức lợi nhuận sau một kỳ hoạt động trong mối tương quan với nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí cho những thất thoát xảy ra. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thông thường được đo lường bằng các tỷ lệ sau đây: 1.1 Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản là tỷ số thể hiện tương quan giữa khả năng sinh lợi và tài sản của ngân hàng.
ROA cho thấy hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận hay nói cách khác,ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng. ROA thể hiện bình quân cứ 1 đồng tài sản 5 được sử dụng trong hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận và được tính bằng công thức: Lợ i nhuận ròng ROA = Tổng tài sả n Syfari(2012),Abuzar (2013) và nhiều nhà nghiên cứu khác đã sử dụng tỷ lệ ROA để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ROA phụ thuộc vào nhiều nhân tố như chi phí hoạt động, khả năng thanh khoản, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, quy mô tiền gửi khách hàng, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, cung tiền.2 Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. ROE thể hiện số tiền thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư một đồng vốn vào ngân hàng.
ROE được tính bằng công thức sau đây: Lợi nhuận ròng ROE = Tổng vốn chủ sở hữu Trong các nghiên cứu củaGul, Irshad và Zaman (2011); Zeitun (2012);Abuzar (2013); ROE được sử dụng làm biến phụ thuộc để phân tích các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng. ROE tương tự như ROA, cũng phụ thuộc vào các yếu tố như tài sản, vốn chủ sở hữu, tiền gửi của khách hàng, chi phí trên thu nhập. Theo những kết quả nghiên cứu trên, khả năng giải thích của các mô hình sử dụng ROE là biến phụ thuộc không cao bằng các mô hình với biến phụ thuộc là ROA. Điều này phù hợp với đặc thù trong hoạt động của NHTM.
Với công cụ chủ yếu là đòn bẩy tài chính, các NHTM sử dụng nguồn vốn huy động để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận. Cơ cấu nguồn vốn huy động trên tổng tài sản càng lớn thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng nhỏ. Từ đó tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu sẽ cho kết quả khả quan nhưng lại không thể phản ánh được những rủi ro có thể xảy ra sau đó. Tỷ lệ ROE cao chưa thể khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt của ngân hàng và tỷ lệ ROE thấp cũng chưa thể khẳng định ngân hàng kinh doanh kém hiệu quả.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường khả năng sinh lời cơ bản từ hoạt động tín dụng của ngân hàng theo mức tài sản có sinh lời.
Đây là yếu tố thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính. NIM càng cao thì ngân hàng càng có nhiều lợi nhuận. NIM được tính bằng công thức sau đây: Thu nhập lãi − Chi phí lãi NIM = Tài sản có sinh lời Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm, theo dõi vì tỷ lệ này giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lời thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các tài sản có sinh lời cũng như tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp. Liu và Wilson (2010); Dietrich và Wanzenried (2011) đã sử dụng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là một biến phụ thuộc trong các nghiên cứu về nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
NIM được đo lường từ thu nhập lãi và chi phí lãi mà không đề cập đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Do đó, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên lớn chưa thể phản ánh được hiệu quả kinh doanh thực của ngân hàng.2 Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Các nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu khả năng sinh lời của ngân hàng ở một khu vực, một nhóm các quốc gia có những điểm tương đồng hoặc chỉ tập trung trong phạm vi một quốc gia cụ thể. Kết quả thu được về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàngđược chia làm hai loại: các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng là các nhân tố chịu ảnh hưởng bởi các quyết định mang tính chủ quan của ban lãnh đạo 7 ngân hàng.
Các nhân tố này bao gồm: quy mô tài sản, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tiền gửi khách hàng, hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng, mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, chi phí hoạt động, chính sách lãi suất, rủi ro thanh khoản, công nghệ thông tin và năng suất lao động.1 Quy mô tài sản ngân hàng Quy mô tài sản ngân hàng là kết quả của việc sử dụng vốn trong ngân hàng. Đây là những tài sản được hình thành từ các loại nguồn vốn trong quá trình hoạt động. Các thành phần của tài sản bao gồm: ngân quỹ, danh mục tín dụng, danh mục đầu tư, tài sản cố định và các tài sản khác. Để tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa rủi ro, đảm bảo nhu cầu thanh khoản và khả năng sinh lời, ngân hàng luôn quan tâm đến việc thực hiện chiến lược đa dạng hóa các khoản mục tài sản, đảm bảo danh mục tài sản có thể chuyển đổi một cách linh hoạt, phù hợp với những biến động của môi trường kinh doanh.
Đặc biệt, với tính lợi thế kinh tế nhờ quy mô, các ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi hơn trong quá trình mở rộng kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm các chi phí trong giao dịch, từ đó có thể tăng được lợi nhuận. Tuy nhiên, khi quy mô ngân hàng quá lớn, việc quản trị khối tài sản này sẽ đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và tốn kém nhiều chi phí trong quá trình quản lý, điều hành. Tính phi kinh tế nhờ quy mô xuất hiện, việc tăng trưởng tài sản đối với ngân hàng trong trường hợp này sẽ làm giảm lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu của Sufian và Razali (2008) tại Philippines đã tìm ra mối tương quan âm giữa quy mô ngân hàng và khả năng sinh lợi.
Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Sufian (2011) tại Hàn Quốc;Alper và Anbar (2011) tại Thổ Nhĩ Kỳ; Gur, Irshad và Zaman (2011) tại Pakistan lại tìm ra mối tương quan dương giữa quy mô và khả năng sinh lời của các ngân hàng.2 Quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng Vốn chủ sở hữu của ngân hàng hay còn được gọi là vốn tự có bao gồm phần giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy 8 định của NHNN. Vốn chủ sở hữu cung cấp nguồn lực tài chính cho ngân hàng hoạt động trong thời gian mới thành lập và giúp ngân hàng kịp thời ứng phó khi có rủi ro phát sinh. Vốn chủ sở hữu có tính ổn định cao, không ngừng gia tăng qua từng năm và là nguồn vốn có tính quyết định quy mô hoạt động của một ngân hàng. Các tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng như giới hạn tín dụng, giới hạn đầu tư.
đều được xác định dựa trên vốn chủ sở hữu. Để nâng cao sức đề kháng trước các rủi ro và nguy cơ phá sản trong kinh doanh, các ngân hàng phải duy trì sự ổn định, tăng trưởng vốn chủ sở hữu một cách hợp lý. Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu phải phù hợp với quy mô hoạt động và mức độ rủi ro trong kinh doanh. Nhà quản trị quản lý hiệu quả vốn chủ sỡ hữu sẽ làm tăng khả năng sinh lời của các ngân hàng một cách bền vững.
Trong một nghiên cứu về khả năng sinh lợi của ngân hàng từ 18 nước Châu Âu trong giai đoạn 1986 – 1989, Molyneux và Thornton (1992) đã chỉ ra rằng quy mô vốn chủ sở hữu có tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự (2005) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Hy Lạp trong khoảng thời gian từ 1985 đến 2001 cũng đưa ra kết quả: vốn là một nhân tố quan trọng giải thích khả năng sinh lợi của ngân hàng.Quy mô vốn ngân hàng càng lớn thì khả năng sinh lợi càng cao. Mối tương quan thuận nàytiếp tục được tìm thấy trong nghiên cứu của Naceur và Goaied (2008); Sufian và Razali (2008), Syfari (2012).