Chương 1: Giới thiệu chung. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết về Ngành Vận Tải Biển, Cổ Phiếu và đo lường Tỉ Suất Lợi Tức và Rủi Ro của cổ phiếu. - Chương 3: Thực trạng ngành vận hành cảng biển tại Việt Nam. - Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
- Chương 5: Những kiến nghị. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG TỈ SUẤT LỢI TỨC VÀ NGÀNH VẬN HÀNH CẢNG BIỂN 2. Tổng quan về các nhân tố tác động đến cổ phiếu và đo lường Tỉ Suất Lợi Tức 2. Tổng quan về các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu : 2.
Các nhân tố chủ quan (Các nhân tố Vi Mô): Cơ cấu vốn của Doanh nghiệp : là tỉ lệ vốn góp của cổ đông và nợ của Doanh nghiệp trong tổng nguồn vốn của Doanh nghiệp, nhìn vào cơ cấu vốn chúng ta có thể biết được Doanh nghiệp đang có bao nhiêu phần là vốn thực góp, bao nhiêu phần trăm là Doanh nghiệp đi vay hoặc nợ của người khác. Thông qua cơ cấu vốn chúng ta có thể phần nào biết được sức khoẻ của Doanh nghiệp, đối với một Doanh nghiệp có nợ chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn thì lãi phải trả của Doanh nghiệp sẽ chiếm rất nhiều trong doanh thu của Doanh nghiệp, vì vậy, Doanh nghiệp có số nợ lớn thì sức khoẻ sẽ không được tốt, nhà đầu tư sẽ ngại đầu tư vào cổ phiếu này. Các chỉ số về khả năng sinh lời của Doanh nghiệp : o Tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) : 𝐿ã𝑖 𝑟ò𝑛𝑔 𝑅𝑂𝐸 = 𝑉ố𝑛 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛 𝑡ℎườ𝑛𝑔 Mặc dù Doanh nghiệp có tỉ lệ nợ tương đối lớn nhưng với lợi nhuận tạo ra nhiều hơn gấp nhiều lần so với phần vốn góp thì cũng cho thấy Doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả, doanh thu hoàn toàn có khả năng thanh toán được nợ lãi. Doanh nghiệp có ROE càng cao thì sẽ càng thu hút được nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu của mình nhiều hơn.
o Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) : 5 𝐿ã𝑖 𝑟ò𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑜 𝑐ổ đô𝑛𝑔 𝑡ℎườ𝑛𝑔 𝑅𝑂𝐴 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Cũng tương tự như chỉ số ROE, ROA cũng phản ánh tình hình hoạt động của Doanh nghiệp có hiệu quả hay không, nếu Doanh nghiệp có ROA cao thì cho thấy Doanh nghiệp đang hoạt động rất hiệu quả, nhà đầu tư sẽ quan tâm đến cổ phiếu của Doanh nghiệp nhiều hơn. o Chỉ số thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) : 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 − 𝑐ổ 𝑡ứ𝑐 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 ư𝑢 đã𝑖 𝐸𝑃𝑆 = 𝐿ượ𝑛𝑔 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 đ𝑎𝑛𝑔 𝑙ư𝑢 𝑡ℎô𝑛𝑔 Chỉ số EPS cho thấy mỗi cổ phiếu sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận trong một chu kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp, EPS càng cao cho thấy Doanh nghiệp càng hoạt động hiệu quả, nhà đầu tư trên sán chứng khoán rất quan tâm đến chỉ số này của Doanh nghiệp, nó cho họ biết rằng khi đầu tư vào cổ phiếu này thì mỗi chu kỳ kinh doanh Doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận sổ sách cho họ. Doanh nghiệp có chỉ số EPS càng cao thì nhà đầu càng quan tâm đến cổ phiếu đó. o Chính sách cổ tức của Doanh nghiệp : Cổ tức = Tỉ lệ cổ tức (LNSTCFF – Cổ tức ưu đãi – LNGL) Đây là chỉ số mà rất nhiều nhà đầu tư quan tâm khi mua cổ phiếu của Doanh nghiệp, nó gắn liền đến lợi ích sát sường của nhà đầu tư khi mua cổ phiếu.
Đối với các nhà đầu tư lướt sóng thì họ không quan tâm nhiều đến chỉ số này, nhưng những nhà đầu tư lâu dài thì họ rất quan tâm đến chỉ số này và thường các nhà 6 đầu tư sẽ lấy tỉ lệ lãi suất hiện hành của hệ thống Ngân hàng để làm cơ sở so sánh để biết mức tỉ lệ cổ tức bao nhiêu là hợp lý. Ngoài ra, thì mức độ ổn định của cổ tức của Doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến cái nhìn của nhà đầu tư đối với cổ phiếu, Doanh nghiệp có chính sách cổ tức ổn định qua các năm sẽ khiến nhà đầu tư có xu hướng đâu tư vào cổ phiếu lâu dài hơn, các Doanh nghiệp có chính sách cổ tức không ổn định sẽ làm nhà đầu tư ngại đầu tư dài hạn vào cổ phiếu đó hơn. Thương hiệu sản phẩm và hệ thống phân phối của sản phẩm : Thương hiệu của Doanh nghiệp là tài sản vô hình nhưng có sự tác động rất lớn đến tâm lý của nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu của Doanh nghiệp. Đối với các Doanh nghiệp có thương hiệu lớn, hệ thống phân phối rộng khắp sẽ giúp các nhà đầu tư yên tâm khi đầu tư vào cổ phiếu của Doanh nghiệp, vì họ đơn giản hiểu rằng khi Doanh nghiệp có thương hiệu và phân phối tốt thì hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp cũng sẽ tốt, lợi nhuận thu về cho nhà đầu tư sẽ được đảm bảo.
Hội đồng quản trị, ban điều hành của Doanh nghiệp : Trình độ và tầm nhìn của ban lãnh đạo Doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của nhà đầu tư, ban lãnh đạo có trình độ và tầm nhìn tốt thì sẽ đưa ra được những chiến lượt kinh doanh hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho Doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư đầu tư vào cổ phiếu của Doanh nghiệp đó. Các nhân tố khách quan (Các nhân tố Vĩ Mô) : Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường bằng độ tăng trưởng của GDP (Gross Dometic Product) của quốc gia, GDP tăng so với kỳ tính toán trước sẽ cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng tốt, còn GDP giảm so với kỳ trước thì sẽ cho thấy nền kinh tế đang giảm tốc. 7 Tuy nhiên, do việc công bố dữ liệu GDP thường được công bố theo quý nên người ta thường sử dụng Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) thay cho GDP dùng để đại diện cho tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Chỉ số sản xuất Công nghiệp (IIP) là “chỉ tiêu nhanh” của các hoạt động công nghiệp, mà từ đó, chúng ta có thể xem xét tổng quan về hoạt động công nghiệp.
IIP không bị ảnh hưởng bởi sự biến động giá và vì vậy chúng ta có thể xem xét hoạt động công nghiệp thuần túy thông qua IIP. Lượng cung tiền Cung tiền nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mua bán hàng hoá , dịch vụ, tài sản của cá nhân và Doanh nghiệp. Khi lượng cung tiền tăng mạnh trong một khoản thời gian dài sẽ có thể dẫn đến lạm phát. Tuy nhiên, nếu cung tiền ở mức vừa phải lại có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển, kích thích tiêu dùng trong dân chúng.
Bình thường việc cung tiền được Ngân Hàng Nhà Nước quản lý rất chặt chẻ, vì vậy, việc cung tiền quá mức trong một thời gian dài là rất ít khi xảy ra. Vì vậy, thường cung tiền tăng chủ yếu là nhằm kích thích kinh tế, kích thích tiêu dùng, nên cung tiền mà tăng thì sẽ có tác động tích cực đến giá cổ phiếu. Chỉ số Lạm Phát Lạm phát là hiện tượng tăng lên của của mức giá chung theo thời gian. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền, hay nói cách khác là đồng tiền bị mất giá.
Lạm phát có thể xảy ra do một số nguyên nhân sau : Lạm phát do cầu kéo, Lạm phát do chi phí đẩy, hay Lạm phát do cung tiền tăng lên liên tục. Lạm phát được tính bằng chỉ số CPI (chỉ số giá tiêu dùng) nó là chỉ số đo giá cả của một rỗ hàng hoá dịch vụ khác nhau, bao gồm : lương thực, thực phẩm, dịch vụ y tế,… Công thức tính CPI như sau : 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí để 𝑚𝑢𝑎 𝑔𝑖ỏ ℎà𝑛𝑔 ℎ𝑜á 𝑡ℎờ𝑖 𝑘ỳ 𝑡 𝐶𝑃𝐼𝑡 = 𝑥100% 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí để 𝑚𝑢𝑎 𝑔𝑖ỏ ℎà𝑛𝑔 ℎ𝑜á 𝑘ỳ 𝑐ơ 𝑠ở Từ chỉ số CPI chúng ta có công thứ tính chỉ số Lạm phát như sau : 8 𝐶𝑃𝐼 𝑛ă𝑚 𝑡 − 𝐶𝑃𝐼 𝑛ă𝑚 (𝑡 − 1) 𝐶ℎỉ 𝑠ố 𝐿ạ𝑚 𝑝ℎá𝑡 𝑛ă𝑚 𝑡 = 𝑥100% 𝐶𝑃𝐼 𝑛ă𝑚 (𝑡 − 1) Trong thực tế, giá cổ phiếu có xu hướng dịch chuyển ngược chiều với Lạm phát. Khi Lạm phát tăng thì đồng tiền sẽ bị mất giá, khi đó chi phí cơ hội mà nhà đầu tư đem tiền đi mua cổ phiếu sẽ tăng lên, vì vậy, nhà đầu tư sẽ e ngại hơn khi mua vào cổ phiếu của Doanh nghiệp, khiến giá cổ phiếu giảm. Tuy nhiên, không phải lúc nào Lạm phát cũng là điều xấu, nếu Lạm phát ở mức độ vừa phải thì sẽ có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo ra nhiều việc làm hơn, hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ hiệu quả hơn.
Vì vậy, đôi khi Lạm phát tăng thì chưa hẳn là giá cổ phiếu sẽ giảm, nếu Lạm phát ở mức vừa phải đôi khi giúp giá cổ phiếu tăng lên. Lãi suất Khi lãi suất tăng sẽ làm tăng gánh nặng lãi vay lên Doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp, vì vậy, Doanh nghiệp sẽ hạn chế mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà đầu tư vì vậy cũng ngại mua vào cổ phiếu hơn, làm cho giá cổ phiếu giảm. Ngoài ra, khi lãi suất tăng sẽ khiến nhà đầu tư có xu hướng mang tiền gửi tiết kiệm nhiều hơn, do gửi tiết kiệm vừa an toàn mà lợi nhuận thu về được đảm bảo, khiến thị trường chứng khoán bị mất đi một luồng vốn đầu tư nhất định.
Thêm vào đó, khi lãi suất tăng thì lãi cho vay Margin ở các Công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư cũng tăng lên, làm các nhà đầu tư ngại sử dụng Margin để mua vào cổ phiếu, thị trường chứng khoán lại mất thêm một lượng vốn đầu tư nữa. Tóm lại, giá cổ phiếu có xu hướng vận động ngược với lãi suất, lãi suất tăng thì giá cổ phiếu sẽ giảm và ngược lại. 9 Tỉ giá Nếu tỉ giá tăng sẽ giúp cho hàng hoá trong nước rẻ hơn trong mắt của người tiêu dùng nước ngoài, giúp cho hàng hoá Việt Nam xuất khẩu cạnh tranh hơn, giúp các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu thu được lợi nhuận cao hơn. Ngược lại, khi tỉ giá giảm làm cho hàng hoá trong nước trở nên mắc hơn trong mắt người tiêu dùng nước ngoài, làm cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam kém cạnh tranh hơn khi xuất ra nước ngoài, từ đó khiến các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam hoạt động kém hơn.
Tuy nhiên, đối với các Doanh nghiệp có nợ bằng ngoại tệ thì khi tỉ giá tăng sẽ khiến các Doanh nghiệp mang gánh nặng nợ nhiều hơn, làm giá cổ phiếu của Doanh nghiệp giảm.