Đặt vấn đề Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và trở thành xu thế phổ biến trên thế giới. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế đó, đặc biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM) với đặc thù kinh doanh liên quan đến loại hàng hóa đặc biệt - tiền tệ. Và hệ quả tất yếu của xu thế đó là tự do hóa thị trường tài chính, tự do hóa thị trường tiền tệ. Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, và mới đây là việc gia nhập TPP, sự xuất hiện ngày càng nhiều các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng mạnh, công nghệ hiện đại, dịch vụ đa dạng đã và đang gây áp lực cạnh tranh lên các NHTM Việt Nam.
Điều này đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải chủ động sáng tạo, xây dựng chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh của riêng mình, sẵn sàng tham gia vào sân chơi quốc tế, biến thách thức thành cơ hội, biến khó khăn thành lợi thế, nâng cao năng lực tài chính, trình độ quản lý, hạ tầng công nghệ, đặc biệt là năng lực hoạt động để có thể cạnh tranh và phát triển bền vững với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong những năm trở lại đây, cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ bong bóng bất động sản ở Mỹ năm 2008 và lan rộng toàn cầu kéo theo sự sụp đổ hàng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, ngân hàng lớn và lâu đời trên thế giới như Country Financial, Washington Mutual, Lehman Brothers,… cho thấy tầm quan trọng và tác động dây chuyền của nó đến nền kinh tế trong đó có hệ thống ngân hàng. Ngay tại Việt Nam trong những năm qua, với đề án tái cơ cấu của Ngân hàng Nhà nước, một số ngân hàng đã buộc sát nhập và không còn giữ được thương hiệu của mình. Trước sức ép của các cuộc khủng hoảng kinh tế cũng như sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong và ngoài nước, các NHTM Việt Nam phải nâng cao khả năng thích nghi, quản trị rủi ro đồng thời là nâng cao chất lượng trong hoạt động kinh doanh mới có thể đứng vững và phát triển trong môi trường mới.
Tính cấp thiết của đề tài: Hội nhập kinh tế quốc tế đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít rủi ro cho hệ thống ngân hàng còn non yếu như Việt Nam. Đồng thời với diễn biến phức tạp của nền kinh tế kèm theo hiện tượng đầu cơ đã làm tiền đề cho các rủi ro dần bộc lộ. Do vậy, việc đánh giá dự báo “sức khỏe” của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng cùng với việc đưa ra các giải pháp phù hợp, kịp thời để từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động luôn là yêu cầu không chỉ dành cho các nhà quản lý, cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước mà còn là việc vô cùng quan trọng với các NHTM trong hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn vốn và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời đại mới. Mô hình CAMELS là một hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình tài chính của các ngân hàng được áp dụng phổ biến tại Mỹ vào những năm 1980, đây được xem như là một chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức tài chính trên toàn thế giới khi đánh giá hiệu quả, rủi ro hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nói riêng và các định chế tài chính nói chung.
CAMELS là từ viết tắt của C – Capital Adequacy (Mức độ an toàn vốn), A – Asset Quality (Chất lượng tài sản có), M – Management (Năng lực quản trị), E – Earning (Khả năng sinh lợi), L – Liquidity (Khả năng thanh khoản), S – Sensitivity to market risk (Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường). Với những lý do đã nêu trên, việc áp dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh theo chuẩn mực quốc tế tại các NHTM Việt Nam, đặc biệt tại các Chi nhánh trọng điểm là điều vô cùng cần thiết. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Ứng dụng mô hình CAMELS trong đánh giá hiệu quả kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm từng bước có cái nhìn thực tế hơn về hiệu quả kinh doanh của một Chi nhánh lớn của hệ thống ngân hàng, từ đó làm tiền đề để thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả và phát triển bền vững, thích nghi nhanh chóng với hội nhập kinh tế quốc tế trong tương lai của Vietinbank nói riêng và các NHTM Việt Nam nói chung. Mục tiêu của đề tài Mục tiêu tổng quát: Bài nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh của VietinBank - CN TP.
HCM trong giai đoạn 2013 - 2017 theo mô hình CAMELS. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của VietinBank - CN TP. Mục tiêu cụ thể: Đề tài nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu sau: Hệ thống hoá các lý thuyết tổng quan về hiệu quả kinh doanh của các NHTM theo mô hình CAMELS. Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh của Vietinbank - CN TP.
HCM theo mô hình CAMELS. Đưa ra các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Vietinbank - CN TP. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả kinh doanh tại Vietinbank - CN TP HCM nói riêng theo các nhân tố trong mô hình CAMELS. Phạm vi nghiên cứu: + Về thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017.
+ Về không gian: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu Đối với các vấn đề lý luận: Đề tài sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, liệt kê. Đối với các vấn đề thực tiễn: Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập, chọn lọc và tính toán số liệu từ đó thể hiện số liệu thông qua các đồ thị, bảng biểu để chứng minh, phân tích, sử dụng phương pháp so sánh kết quả với các chỉ số, các thanh đo an toàn để đưa ra kết luận cần thiết. 4 Nguồn số liệu được sử dụng để phân tích chủ yếu được thu thập từ các báo cáo kinh doanh, báo cáo quản trị, báo cáo tổng hợp của VietinBank - CN TP.
HCM trong giai đoạn 2013 – 2017. Đóng góp của đề tài Áp dụng mô hình CAMELS vào việc phân tích và đánh giá hiệu quả kinh doanh của VietinBank - CN TP. Tác giả sẽ sự đánh giá khách quan, một cái nhìn cụ thể về tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh của một chi nhánh ngân hàng hàng đầu Việt Nam, từ đó nếu lên những tồn tại cũng như vấn đề quan trọng cần được lưu ý cải thiện, nâng cao chất lượng hoạt động VietinBank - CN TP. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Mô hình CAMELS là mô hình được xây dựng ở Mỹ từ những năm 1980.
Theo mô hình này, các nhà phân tích có thể phân tích tình hình tài chính của các NHTM ở cả các nhân tố định tính và định lượng. Mô hình này rất hữu ích cho các nhà phân tích tài chính cũng như nhà quản lý ngân hàng trong việc đánh giá và đưa ra dự đoán sự lành mạnh của NHTM một cách đáng tin cậy, từ đó nhận biết những cơ hội kinh doanh, những dấu hiệu rủi ro và đưa ra các quyết định hợp lý nhằm nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Đề tài nghiên cứu các lý thuyết đã đề cập đến các yếu tố đánh giá chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh để đánh giá hiệu quả kinh doanh Vietinbank - CN TP. Nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu các nhân tố trong mô hình CAMELS và cách thức để nâng cao các chỉ tiêu này theo hướng có lợi trong từng thời kỳ hoạt động của Ngân hàng trong bối cảnh bất ổn định của hệ thống tài chính Việt Nam nhằm đáp ứng được các yêu cầu của cơ quan quản lý và tiêu chuẩn quốc tế.
Một số ứng dụng của mô hình CAMELS trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng và xếp hạng ngân hàng như sau: Ứng dụng mô hinh CAMELS để phân tích hiệu quả hoạt động và xếp hạng ngân hàng của Uyen Dang (The Camel Rating System in Banking Supervision A Case Study, Arcada University of Applied Sciences, International Business, 2011) 5 Với nghiên cứu này, tác giả đã xoay quanh các nội dung của mô hình CAMELS để trả lời 2 câu hỏi sau: (i) Tại sao hệ thống đánh giá CAMELS đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giám sát ngân hàng? (ii) Ích lợi cũng như hạn chế của tổ chức AIA khi áp dụng khuôn khổ CAMELS trong việc đánh giá hiệu suất của các ngân hàng là gì? Ứng dụng CAMELS để đánh giá hiệu quả tài chính và xếp hạng ngân hàng của Al Mehdi Ferrouhi (Moroccan Banks Analysis Using CAMEL Model, International Journal of Economics and Financial Issues, 2014) Nghiên cứu sử dụng mô hình CAMEL phân tích hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính Ma-rốc giai đoạn 2001 – 2011. Mô hình được áp dụng với các tiêu chí về an toàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập và thanh khoản và sau đó xác định hiệu quả tài chính, hoạt động lành mạnh và tuân thủ quy định của các tổ chức tài chính Ma-rốc. Việc áp dụng mô hình CAMEL cho các tổ chức tài chính Ma-rốc giai đoạn 2001 – 2011 cho phép tác giả có một cái nhìn khái quát về thứ hạng của các ngân hàng. Tác giả đã áp dụng chỉ tiêu tỷ lệ vốn nợ cho việc phân tích an toàn vốn, quy định tổn thất cho vay với tổng các khoản vay cho các phân tích của chất lượng tài sản, lợi nhuận trên VCSH để phân tích chất lượng quản lý, lợi nhuận trên tài sản để phân tích khả năng thu nhập và các khoản tiền gửi trên tổng số tỷ lệ tài sản phân tích khả năng thanh khoản.
Qua các lý thuyết và nghiên cứu về hoạt động của NHTM cho thấy rằng có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM như môi trường kinh doanh, khả năng điều hành, môi trường pháp lý, kinh tế và chính trị cũng như chiến lược kinh doanh của ngân hàng,… và nội dung bài nghiên cứu này cũng sẽ như thế.