Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Tác động của môi trường thể chế đến thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam" được tác giả Lê Vũ Toàn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Văn Bình, bảo vệ năm 2023 tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, chuyên ngành Quản lý công nghiệp (mã số: 9510601).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN), đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đóng vai trò chiến lược đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và tạo lập việc làm. Tại Việt Nam, giai đoạn từ 2016 đến 2021 ghi nhận trung bình mỗi năm có hơn 126.000 doanh nghiệp thành lập mới; số lượng DNKN đổi mới sáng tạo tăng từ 400 doanh nghiệp (năm 2012) lên khoảng 3.000 doanh nghiệp (năm 2022). Việt Nam vươn lên vị trí thứ ba trong khu vực Đông Nam Á về số lượng và giá trị thu hút đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, sau Singapore và Philippines; số lượng quỹ đầu tư mạo hiểm tăng từ 61 quỹ (năm 2019, gồm 10 quỹ nội địa) lên 208 quỹ (năm 2022, gồm 40 quỹ nội địa theo thống kê của BambuUP).
Tuy nhiên, môi trường thể chế dành cho khởi nghiệp tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều rào cản:
- Trụ cột thể chế quy định: Hệ thống pháp lý về tài chính khởi nghiệp còn thiếu vắng các quy định cụ thể về tư cách pháp nhân của quỹ đầu tư mạo hiểm; thiếu khung pháp lý điều chỉnh mạng lưới nhà đầu tư cá nhân (nhà đầu tư thiên thần); các cơ chế hỗ trợ tài chính như Quỹ Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hay Quỹ Bảo lãnh tín dụng gặp nhiều khó khăn trong khâu thực thi.
- Trụ cột thể chế quy phạm: Chuẩn mực xã hội và nền tảng văn hóa truyền thống Á Đông tại Việt Nam chưa định hình đầy đủ văn hóa chấp nhận thất bại – một yếu tố then chốt kích thích tinh thần dấn thân trong khởi sự kinh doanh.
- Trụ cột thể chế nhận thức: Hoạt động giáo dục và đào tạo khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa trang bị đầy đủ bộ kỹ năng và tư duy nhận diện cơ hội kinh doanh cho các nhà sáng lập.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận môi trường thể chế ở từng khía cạnh riêng lẻ (như cải cách thủ tục hành chính, chính sách hỗ trợ) hoặc đánh giá chất lượng điều hành kinh tế thông qua bộ chỉ số PCI mà chưa tiếp cận toàn diện theo khung lý thuyết ba trụ cột thể chế của Scott (1995). Đồng thời, chưa có công trình nào đánh giá đồng thời tác động trực tiếp và tác động gián tiếp của ba trụ cột thể chế tới thành công của DNKN thông qua vai trò trung gian của định hướng khởi nghiệp (EO) trong bối cảnh Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác lập 03 mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng mô hình nghiên cứu tác động của môi trường thể chế đến thành công của DNKN có xem xét vai trò trung gian của định hướng khởi nghiệp, phù hợp với bối cảnh thực tiễn Việt Nam;
- Khảo sát, kiểm định và đo lường mức độ tác động của các trụ cột môi trường thể chế đến thành công của DNKN tại Việt Nam;
- Đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm hoàn thiện các yếu tố cấu thành môi trường thể chế, thúc đẩy khả năng thành công của DNKN tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
- Đo lường thành công của DNKN Việt Nam như thế nào và bằng cách nào?
- Môi trường thể chế tác động như thế nào đến thành công của DNKN tại Việt Nam?
- Vai trò trung gian của định hướng khởi nghiệp trong mối quan hệ tác động từ môi trường thể chế đến thành công của DNKN tại Việt Nam thể hiện như thế nào?
- Dựa trên kết quả nghiên cứu, có thể gợi ý những khuyến nghị nào nhằm hoàn thiện môi trường thể chế để thúc đẩy thành công của DNKN Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của môi trường thể chế đến thành công của DNKN.
- Khách thể nghiên cứu: Các DNKN đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào môi trường thể chế cấp quốc gia theo 03 trụ cột (quy định, quy phạm, nhận thức), định hướng khởi nghiệp (tính đổi mới, tính chủ động, chấp nhận rủi ro) và thành công của DNKN (hiệu quả tài chính, hiệu quả phi tài chính, tăng trưởng).
- Phạm vi không gian: Khảo sát các DNKN trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và khảo sát các DNKN thành lập trong giai đoạn 2012–2021; tài liệu lý luận được cập nhật đến thời điểm bảo vệ (2023).
- Tiêu chí lựa chọn DNKN vào mẫu khảo sát: (1) DNKN từng tham gia các sự kiện, diễn đàn thuộc Đề án 844; (2) DNKN tham gia Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia (Techfest) các năm 2018, 2019, 2020; (3) DNKN ươm tạo tại các vườn ươm doanh nghiệp; (4) DNKN có hồ sơ trên cơ sở dữ liệu Crunchbase; (5) Doanh nghiệp có thời gian thành lập và vận hành từ năm 2012 trở lại đây.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về môi trường thể chế và thành công khởi nghiệp
Tổng quan nghiên cứu chỉ ra ba nhánh tiếp cận chính trong tài liệu học thuật quốc tế và trong nước:
CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN MÔI TRƯỜNG THỂ CHẾ
TIẾP CẬN THEO TÍNH CHÍNH THỨC TIẾP CẬN THEO CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ TIẾP CẬN THEO BA TRỤ CỘT THỂ CHẾ
- Douglass North (1990): Thể chế - Kaufmann và cộng sự: Chỉ số quản trị - W. Richard Scott (1995, 2008):
chính thức (luật pháp, chính sách) toàn cầu (WGI) với 6 khía cạnh. Quy định, Quy phạm, Nhận thức.
và phi chính thức (chuẩn mực, niềm tin).- VCCI & USAID: Chỉ số PCI (9-10 trụ cột). - Kostova (1997): Hồ sơ thể chế quốc gia.
- Fuentelsaz và cộng sự (2015): Vai trò - WEF: Năng lực cạnh tranh (thể chế công - Busenitz và cộng sự (2000): Thang đo
của quyền tài sản, tự do kinh doanh. và thể chế tư nhân). 13 biến cho lĩnh vực khởi nghiệp.
- Albihany (2019): Thể chế phi chính - Tridico (2006): 6 chỉ số điều hành tại - Urbano & Alvarez (2014), Roxas &
thức trong giai đoạn đầu khởi nghiệp. nền kinh tế chuyển đổi. Coetzer (2012), De Clercq và cs (2010).
- Zenger và cộng sự (2000): Mối quan hệ - Nhóm tác giả Việt Nam: Mai Đức Anh,
đan xen, bổ trợ hoặc thay thế giữa hai Nguyễn Mạnh Quân (2018), Anh & Hùng
khối thể chế. (2015), Hà và cs (2019), Chu Thị Mai
Phương (2017), Tú & Sơn (2015).
Tiếp cận về khái niệm và thành công của DNKN: Các công trình thời kỳ đầu tiếp cận DNKN qua tiêu chí "mới thành lập, độc lập và có hoạt động" (Keeble, 1976; Gudgin, 1978; Carter và cộng sự, 1996). Các nghiên cứu đương đại bổ sung yếu tố đổi mới sáng tạo, mô hình kinh doanh có khả năng nhân rộng và chấp nhận rủi ro (Eric Ries, 2011; Steve Blank, 2013; Neil Blumenthal; Luật Hỗ trợ DNNVV Việt Nam, 2017). Đo lường thành công của DNKN được phân chia theo các chỉ tiêu tài chính truyền thống hoặc mở rộng sang các chỉ tiêu phi tài chính và chỉ số tăng trưởng quy mô.
Tiếp cận về Định hướng khởi nghiệp (EO): Khởi nguồn từ Mintzberg (1973), Miller (1983, 2011), và hoàn thiện bởi Covin & Lumpkin (2011), EO được cấu thành từ 03 chiều kích: tính đổi mới, tính chủ động và khả năng chấp nhận rủi ro. Các nghiên cứu quốc tế (Porter, 1980; Shane, 2003; Wiklund & Shepherd, 2003; Rauch và cộng sự, 2009) và nghiên cứu tại Việt Nam (Nguyễn Ngọc Thức, 2019; Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc; Tráng & Tiến, 2018; Giao và cộng sự, 2017; Minh & Hường, 2017; Nguyên & Viện, 2021) khẳng định EO là phản ứng chiến lược cấp doanh nghiệp, có khả năng làm trung gian truyền dẫn tác động từ môi trường vĩ mô tới kết quả kinh doanh.
Khoảng trống luận án giải quyết
- Khảo cứu trắc lượng thư mục bằng VOSviewer trên 1.554 bài báo từ cơ sở dữ liệu Scopus (giai đoạn 1981–2019) cho thấy các công trình quốc tế nghiên cứu sâu về khởi nghiệp nhưng thiếu các dữ liệu thực nghiệm tích hợp từ các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Nam Á như Việt Nam.
- Thiếu sự thống nhất trong bộ công cụ đo lường thành công của DNKN phù hợp với đặc thù sở hữu, năng lực tài chính và quản trị tại Việt Nam.
- Chưa có mô hình kiểm định cấu trúc tuyến tính nào làm rõ cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của từng trụ cột thể chế (quy định, quy phạm, nhận thức) lên thành công của DNKN thông qua định hướng khởi nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết thể chế (Institutional Theory): Dựa trên quan điểm của Douglass North (1990) về thể chế là "luật chơi của một xã hội" và cấu trúc ba trụ cột thể chế của W. Richard Scott (1995, 2008):
- Trụ cột thể chế quy định (Regulative pillar): Luật pháp, văn bản quy phạm, chính sách hỗ trợ tài chính/thuế, thủ tục hành chính điều chỉnh hành vi kinh doanh.
- Trụ cột thể chế quy phạm (Normative pillar): Chuẩn mực xã hội, hệ thống giá trị, đạo đức kinh doanh và thái độ của cộng đồng đối với hoạt động khởi sự, bao gồm văn hóa chấp nhận thất bại.
- Trụ cột thể chế nhận thức (Cognitive pillar): Tri thức, kỹ năng kinh doanh, thế giới quan, kinh nghiệm nhận diện cơ hội thị trường và các chương trình giáo dục - đào tạo khởi nghiệp.
- Lý thuyết định hướng khởi nghiệp (Entrepreneurial Orientation Theory): Sử dụng khung phân tích của Covin & Lumpkin (2011) với 03 thành phần: tính đổi mới (innovativeness), tính chủ động (proactiveness) và tính chấp nhận rủi ro (risk-taking).
| Khái niệm nghiên cứu |
Nguồn lý thuyết / Thang đo gốc |
Số lượng biến quan sát |
Kỹ thuật đo lường |
| Trụ cột thể chế quy định |
Kostova (1997), Busenitz và cộng sự (2000), Urbano & Alvarez (2014) |
06 biến |
Thang đo Likert 5 mức độ (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) |
| Trụ cột thể chế quy phạm |
Busenitz và cộng sự (2000), Roxas & Coetzer (2012) |
06 biến |
Thang đo Likert 5 mức độ |
| Trụ cột thể chế nhận thức |
Busenitz và cộng sự (2000), De Clercq và cộng sự (2010) |
06 biến |
Thang đo Likert 5 mức độ |
| Định hướng khởi nghiệp (EO) |
Miller (2011), Covin & Lumpkin (2011) |
09 biến (3 nhóm: Đổi mới, Chủ động, Rủi ro) |
Thang đo Likert 5 mức độ |
| Thành công của DNKN |
Tổng quan tài liệu và phát triển qua phương pháp Delphi |
13 biến (3 nhóm: Tài chính, Phi tài chính, Tăng trưởng) |
Thang đo Likert 5 mức độ |
| Biến kiểm soát |
Bối cảnh doanh nghiệp |
03 biến |
Tuổi doanh nghiệp, Quy mô vốn, Lĩnh vực hoạt động |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định tính và định lượng):
-
Phương pháp nghiên cứu định tính:
- Nghiên cứu tại bàn và khảo cứu tài liệu: Rà soát các bài báo học thuật trên Scopus, ScienceDirect, Google Scholar và Tạp chí Khoa học Việt Nam Trực tuyến.
- Phân tích trắc lượng thư mục (Bibliometrics): Sử dụng phần mềm VOSviewer để lập bản đồ tri thức và xu hướng nghiên cứu về "startup success" trên dữ liệu Scopus (1981–2019).
- Phương pháp chuyên gia Delphi: Thực hiện qua nhiều vòng lấy ý kiến chuyên gia ẩn danh (gồm các nhà quản lý, chuyên gia quỹ đầu tư, giảng viên đại học, người sáng lập) nhằm sàng lọc, xây dựng và xác lập tính đồng thuận cho bộ chỉ tiêu đo lường thành công của DNKN.
- Nghiên cứu sơ bộ: Khảo sát thử nghiệm trên mẫu nhỏ gồm 32 DNKN để hiệu chỉnh câu từ, kiểm tra độ rõ ràng của phiếu khảo sát trước khi tiến hành thu thập dữ liệu diện rộng.
-
Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Quy mô mẫu và thu thập dữ liệu: Mẫu khảo sát được thu thập từ các sáng lập viên/đồng sáng lập viên hoặc cấp quản lý điều hành của DNKN thỏa mãn 05 tiêu chí lựa chọn tại Việt Nam.
- Công cụ và quy trình xử lý dữ liệu:
- Thống kê mô tả cấu trúc mẫu và kiểm tra độ phân phối chuẩn của các biến quan sát.
- Kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến - tổng.
- Kiểm định thiên lệch phương pháp phổ biến (Common Method Bias/Harman's single factor test).
- Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) trên phần mềm SPSS 26.0.
- Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA) trên phần mềm AMOS 24.0 nhằm kiểm định tính hội tụ, độ tin cậy tổng hợp (CR), phương sai trích trung bình (AVE) và giá trị phân biệt.
- Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling - SEM) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trong mô hình cơ sở và mô hình mở rộng.
- Kiểm định tính bền vững của các ước lượng mô hình thông qua kỹ thuật Bootstrap với cỡ mẫu tái lập $N = 600$.
- Phân tích đa nhóm (Multi-group analysis) để đánh giá sự khác biệt theo thời điểm thành lập của doanh nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Phần mở đầu
Phần mở đầu trình bày bối cảnh nghiên cứu về làn sóng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, sự tham gia của các chính sách nhà nước (Đề án 844, Đề án 1665, Đề án 939) và vai trò của các quỹ đầu tư mạo hiểm. Tác giả luận giải tính cấp thiết của việc xây dựng khung thể chế đồng bộ; xác lập mục đích, 03 mục tiêu cụ thể, 04 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, các phương pháp tiếp cận chính, các đóng góp mới và kết cấu 05 chương của luận án.
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể chế và môi trường thể chế từ các lý thuyết kinh tế học thể chế (Douglass North) và xã hội học tổ chức (W. Richard Scott). Tác giả phân tích các định nghĩa về DNKN, tiêu chí phân biệt DNKN với doanh nghiệp nhỏ và vừa truyền thống (tính mới, tính đổi mới sáng tạo, tiềm năng tăng trưởng nhanh và chấp nhận rủi ro). Chương này tổng kết 03 nhánh nghiên cứu chính về môi trường thể chế (tiếp cận theo tính chính thức, theo chất lượng quản trị, và theo 03 trụ cột thể chế), đồng thời làm rõ khái niệm định hướng khởi nghiệp (EO) với 03 chiều kích theo Covin & Lumpkin (2011). Cuối chương, tác giả xác định khoảng trống học thuật về cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của môi trường thể chế đến thành công khởi nghiệp tại các nền kinh tế đang phát triển.
Chương 2. Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 thiết kế quy trình nghiên cứu 05 bước và xây dựng hai mô hình phân tích: mô hình nghiên cứu cơ sở (tác động trực tiếp từ 03 trụ cột thể chế đến thành công của DNKN) và mô hình nghiên cứu mở rộng (bổ sung biến trung gian EO).
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU MỞ RỘNG
Chương này trình bày chi tiết các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế quy định, thể chế quy phạm, thể chế nhận thức với định hướng khởi nghiệp và thành công của DNKN; giả thuyết về vai trò trung gian của EO và tác động của các biến kiểm soát. Tác giả trình bày phương pháp xác định cỡ mẫu, quy trình khảo sát sơ bộ ($n = 32$), phương pháp chọn mẫu khảo sát chính thức và các tiêu chuẩn kiểm định định lượng (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM, Bootstrap $N = 600$, phân tích đa nhóm).
Chương 3. Phát triển thang đo và phiếu khảo sát
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình xây dựng các thang đo nghiên cứu:
- Thang đo môi trường thể chế: Kế thừa và hiệu chỉnh từ thang đo 13 biến của Busenitz và cộng sự (2000), phát triển thành thang đo gồm 18 biến quan sát bao quát 03 trụ cột (Quy định: 06 biến, Quy phạm: 06 biến, Nhận thức: 06 biến).
- Thang đo định hướng khởi nghiệp: Kế thừa thang đo 09 biến của Covin & Lumpkin (2011) đo lường tính đổi mới, tính chủ động và tính chấp nhận rủi ro.
- Ứng dụng phương pháp Delphi: Triển khai quy trình tham vấn nhóm chuyên gia đa ngành (quản lý nhà nước, quỹ đầu tư, học giả, doanh nhân sáng lập) qua các vòng khảo sát ẩn danh nhằm thiết lập sự đồng thuận. Kết quả xác lập bộ thang đo thành công của DNKN gồm 13 biến quan sát thuộc 03 thành phần: Hiệu quả tài chính (04 biến), Hiệu quả phi tài chính (04 biến) và Tăng trưởng của doanh nghiệp (05 biến).
- Thiết kế phiếu khảo sát hoàn chỉnh kết hợp thang đo Likert 5 mức độ và các câu hỏi thông tin biến kiểm soát.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 4 công bố toàn bộ kết quả phân tích dữ liệu thực nghiệm:
- Bối cảnh và thống kê mô tả: Phân tích thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam, cơ cấu mẫu khảo sát theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm của nhà sáng lập, hình thức khởi nghiệp, phân bố vốn và lĩnh vực hoạt động.
- Kiểm định độ tin cậy và giá trị thang đo: Hệ số Cronbach’s Alpha của tất cả các thang đo thành phần đều đạt yêu cầu ($> 0{,}7$), tương quan biến - tổng $> 0{,}3$. Phân tích EFA và CFA khẳng định các thang đo đạt tính đơn hướng, giá trị hội tụ (AVE $> 0{,}5$; CR $> 0{,}7$) và giá trị phân biệt.
- Lựa chọn mô hình: Kiểm định Chi-square và các chỉ số độ phù hợp ($CMIN/df$, $CFI$, $TLI$, $RMSEA$) chứng minh mô hình mở rộng có sự hiện diện của biến trung gian EO có độ tương thích với dữ liệu thực tế vượt trội so với mô hình cơ sở.
- Kiểm định giả thuyết bằng SEM:
- Cả 03 trụ cột thể chế đều có tác động trực tiếp, dương bản và có ý nghĩa thống kê đến thành công của DNKN.
- Trụ cột thể chế nhận thức có tác động thuận chiều mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê rõ rệt nhất đến định hướng khởi nghiệp (EO).
- Định hướng khởi nghiệp (EO) đóng vai trò trung gian truyền dẫn một phần tác động từ môi trường thể chế (đặc biệt là thể chế nhận thức) tới thành công của DNKN.
- Kiểm định tính bền vững và phân tích đa nhóm: Ước lượng Bootstrap ($N = 600$) khẳng định độ tin cậy của các trọng số hồi quy. Phân tích đa nhóm chỉ ra sự khác biệt về mức độ phản ứng trước tác động thể chế giữa các nhóm DNKN có thời điểm thành lập khác nhau.
Chương 5. Bình luận và hàm ý nghiên cứu
Chương 5 thảo luận chuyên sâu về các kết quả đạt được, đối chiếu với các công trình nghiên cứu quốc tế và thực tiễn thể chế kinh tế tại Việt Nam. Tác giả bình luận nguyên nhân khiến trụ cột nhận thức giữ vai trò chi phối đối với EO của doanh nghiệp và lý giải sự thiếu hụt trong thực thi trụ cột quy định. Từ đó, chương này đề xuất 03 nhóm giải pháp chính sách:
- Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế tài chính thúc đẩy khởi nghiệp;
- Xây dựng chuẩn mực văn hóa xã hội chấp nhận rủi ro và thất bại trong kinh doanh;
- Nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục, đào tạo khởi nghiệp tại các trường đại học. Chương kết thúc bằng việc tổng kết đóng góp của luận án và chỉ ra các giới hạn nghiên cứu.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng và chuẩn hóa bộ thang đo thành công của DNKN: Ứng dụng phương pháp Delphi xây dựng thành công thang đo đa diện gồm 03 chiều kích (Hiệu quả tài chính, Hiệu quả phi tài chính, Tăng trưởng) với 13 biến quan sát, giải quyết được sự thiếu đồng nhất trong các cách đo lường hiệu quả khởi nghiệp trước đó.
- Hiệu chỉnh thang đo môi trường thể chế theo bối cảnh Việt Nam: Phát triển thang đo môi trường thể chế gồm 18 biến quan sát dựa trên khung lý thuyết gốc 13 biến của Busenitz và cộng sự (2000), khẳng định tính phù hợp của cấu trúc 03 trụ cột thể chế (Quy định, Quy phạm, Nhận thức) tại một quốc gia đang phát triển.
- Làm rõ cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp: Chứng minh thực nghiệm rằng môi trường thể chế không chỉ tác động trực tiếp mà còn tác động gián tiếp đến thành công của DNKN qua biến trung gian định hướng khởi nghiệp (EO), trong đó trụ cột thể chế nhận thức giữ vai trò tác động mạnh mẽ nhất đến thái độ đổi mới, tính chủ động và khả năng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện: Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về thực trạng khởi nghiệp và môi trường thể chế tại Việt Nam trong giai đoạn 2012–2021, phản ánh khách quan nhận thức và đánh giá của các nhà sáng lập DNKN.
- Định vị trọng tâm điều hành cho các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy việc hoàn thiện pháp lý (thể chế quy định) cần phải đi đôi với phát triển nhận thức và kỹ năng kinh doanh (thể chế nhận thức) mới có thể kích hoạt tối đa năng lực đổi mới sáng tạo nội tại của DNKN.
Các kiến nghị và giải pháp đề xuất
HỆ THỐNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT & TÀI CHÍNH XÂY DỰNG VĂN HÓA KHỞI NGHIỆP NÂNG CAO GIÁO DỤC KHỞI NGHIỆP
(Trụ cột Thể chế Quy định) (Trụ cột Thể chế Quy phạm) (Trụ cột Thể chế Nhận thức)
- Hoàn thiện khung pháp lý về Quỹ - Tuyên truyền, tôn vinh tinh thần - Đưa nội dung khởi nghiệp ĐMST vào
đầu tư mạo hiểm (xác lập tư cách doanh nhân đổi mới sáng tạo trên chương trình đào tạo đại học/sau đại học.
pháp nhân rõ ràng). các phương tiện truyền thông. - Xây dựng vườn ươm, trung tâm hỗ trợ
- Xây dựng cơ chế ưu đãi thuế và bảo - Xây dựng chuẩn mực xã hội tích cực khởi nghiệp thực chất trong trường học.
vệ pháp lý cho Mạng lưới Nhà đầu đối với việc chấp nhận rủi ro và - Đào tạo kỹ năng thực chiến: gọi vốn,
tư thiên thần. văn hóa chấp nhận thất bại. quản trị tài chính, bảo hộ tài sản trí tuệ.
- Đơn giản hóa thủ tục hành chính, - Khuyến khích sự liên kết, chia sẻ - Tăng cường kết nối giữa chuyên gia, doanh
nâng cao hiệu quả Quỹ Phát triển kinh nghiệm giữa các thế hệ doanh nhân với người học thông qua cố vấn
DNNVV và Quỹ Bảo lãnh tín dụng. nhân trong hệ sinh thái. (mentoring).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Hạn chế về phạm vi không gian và phương pháp chọn mẫu: Dữ liệu thu thập chủ yếu từ các DNKN có tham gia các chương trình hỗ trợ (Đề án 844, Techfest, vườn ươm, Crunchbase), do đó có thể chưa bao quát hoàn toàn các DNKN hoạt động độc lập ngoài các mạng lưới này.
- Hạn chế về đo lường tự báo cáo: Dữ liệu thu thập thông qua đánh giá chủ quan của các nhà sáng lập hoặc cấp quản lý, có thể tiềm ẩn thiên lệch tự phục vụ (self-serving bias) khi đánh giá về thành công và định hướng khởi nghiệp.
- Hạn chế về chiều tác động thời gian: Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang (cross-sectional design), chưa phân tích được chuỗi thời gian dài hạn về tác động phản hồi ngược chiều từ sự thành công của cộng đồng DNKN làm thay đổi môi trường thể chế quốc gia.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng khảo sát theo chuỗi thời gian (longitudinal study) để theo dõi sự chuyển biến của DNKN qua từng giai đoạn phát triển (từ ươm tạo, tăng tốc đến mở rộng quy mô).
- Nghiên cứu so sánh đa quốc gia giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện tương đồng để kiểm định tính khái quát hóa của mô hình.
- Đánh giá sâu hơn các tác động ngược chiều từ hành vi của cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp lên quá trình điều chỉnh chính sách và hoàn thiện thể chế vĩ mô.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên:
- Luận án cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh kết hợp giữa Lý thuyết thể chế (Scott) và Định hướng khởi nghiệp (Covin & Lumpkin).
- Quy trình ứng dụng phương pháp Delphi để xây dựng thang đo thành công DNKN và quy trình kiểm định SEM/Bootstrap trên AMOS là tài liệu tham khảo chuẩn mực về mặt phương pháp luận nghiên cứu quản lý.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Đề án 844):
- Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp có trọng tâm; đặc biệt là việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho quỹ đầu tư mạo hiểm và nhà đầu tư thiên thần.
- Nhận diện rõ tầm quan trọng của việc đầu tư cho thể chế nhận thức (giáo dục khởi nghiệp) bên cạnh các ưu đãi tài chính đơn thuần.
- Đối với các trường đại học, vườn ươm và tổ chức thúc đẩy kinh doanh:
- Định hướng phát triển các chương trình đào tạo khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, mô hình vườn ươm doanh nghiệp gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường.
- Đối với các nhà sáng lập DNKN:
- Giúp các nhà sáng lập nhận thức được tầm quan trọng của việc chủ động xây dựng định hướng khởi nghiệp (đổi mới, chủ động, chấp nhận rủi ro) nhằm thích ứng linh hoạt với các biến động của môi trường thể chế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đo lường thành công của DNKN dựa trên những khía cạnh nào?
Luận án sử dụng phương pháp Delphi xây dựng thang đo thành công của DNKN gồm 13 biến quan sát thuộc 03 khía cạnh: (1) Hiệu quả tài chính (lợi nhuận, doanh thu, khả năng tự cân đối dòng tiền); (2) Hiệu quả phi tài chính (mức độ hài lòng của khách hàng, uy tín thương hiệu, chất lượng sản phẩm/dịch vụ); và (3) Tăng trưởng của doanh nghiệp (tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng quy mô nhân sự, mở rộng thị phần và khả năng gọi vốn qua các vòng).
2. Ba trụ cột môi trường thể chế được tác giả vận dụng như thế nào?
Dựa trên lý thuyết của W. Richard Scott (1995, 2008) và thang đo của Busenitz và cộng sự (2000), tác giả xây dựng thang đo gồm 18 biến quan sát cho 03 trụ cột:
- Trụ cột quy định: Sự minh bạch, thuận tiện của khung pháp lý, các chính sách ưu đãi thuế, thủ tục đăng ký kinh doanh và các chương trình hỗ trợ tài chính của nhà nước.
- Trụ cột quy phạm: Sự ủng hộ của xã hội đối với nghề kinh doanh, sự công nhận vị thế của doanh nhân và chuẩn mực văn hóa chấp nhận rủi ro/thất bại.
- Trụ cột nhận thức: Mức độ phổ biến của tri thức kinh doanh, năng lực nhận diện cơ hội thị trường và chất lượng của hệ thống giáo dục, đào tạo khởi nghiệp.
3. Trụ cột thể chế nào có tác động lớn nhất đến định hướng khởi nghiệp (EO) của DNKN tại Việt Nam?
Kết quả kiểm định SEM chỉ ra rằng trụ cột thể chế nhận thức có tác động thuận chiều mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê rõ rệt nhất đến định hướng khởi nghiệp của DNKN. Điều này chứng minh rằng kiến thức, kỹ năng nhận diện cơ hội và chất lượng đào tạo khởi nghiệp là yếu tố kích hoạt tinh thần đổi mới, tính chủ động và khả năng chấp nhận rủi ro của nhà sáng lập.
4. Vai trò trung gian của định hướng khởi nghiệp (EO) được thể hiện ra sao trong mô hình?
Định hướng khởi nghiệp (EO) đóng vai trò là biến trung gian một phần trong mô hình nghiên cứu mở rộng. Môi trường thể chế (đặc biệt là trụ cột nhận thức) kích thích DNKN hình thành các định hướng chiến lược về đổi mới công nghệ, chủ động đón đầu thị trường và sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, từ đó gia tăng hiệu quả tài chính, phi tài chính và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp.
5. Những rào cản thể chế quy định cụ thể nào đối với tài chính khởi nghiệp tại Việt Nam được luận án chỉ ra?
Luận án chỉ ra hai điểm nghẽn pháp lý lớn: (1) Quy định về quỹ đầu tư mạo hiểm cho phép thành lập quỹ nhưng chưa có cơ chế công nhận tư cách pháp nhân độc lập cho quỹ; (2) Hệ thống văn bản pháp luật thiếu vắng khung khổ điều chỉnh và chính sách ưu đãi dành cho các nhà đầu tư cá nhân (nhà đầu tư thiên thần), làm hạn chế dòng vốn mồi cho DNKN ở giai đoạn đầu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Vũ Toàn là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa môi trường thể chế và thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính Delphi và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, luận án đã chuẩn hóa các bộ công cụ đo lường và làm sáng tỏ cơ chế tác động trực tiếp cũng như gián tiếp của ba trụ cột thể chế thông qua định hướng khởi nghiệp. Các kết quả thực nghiệm đạt được cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách, hoàn thiện hành lang pháp lý tài chính khởi nghiệp, xây dựng văn hóa kinh doanh chấp nhận rủi ro và nâng cao chất lượng giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam.