Chương 1: Giới thiệu chung, bao gồm các nội dung bối cảnh chính sách; câu hỏi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, tập trung làm rõ các khái niệm; các chỉ báo đo lường sự phát triển của doanh nghiệp và các lý thuyết sử dụng. Chương này cũng tóm lược kết quả chính của các nghiên cứu trong và ngoài nước để tìm hiểu ảnh hưởng của các nhân tố trong môi trường kinh doanh tới sự phát triển của DNNVV. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và ước lượng mô hình: mô tả dữ liệu, mô tả biến, các chiến lược lựa chọn mô hình và khung phân tích.
Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của DNNVV Việt Nam giai đoạn 2009-2015. Chương này tiến hành xử lý số liệu, phân tích và giải thích kết quả nghiên cứu dựa trên khung phân tích đã được đề cập ở Chương 3. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. 5 Chương 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về chi phí giao dịch Lý thuyết Tân cổ điển cho rằng doanh nghiệp là một hộp đen, trong đó các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được vận hành trong một môi trường chân không và được quyết định bởi hàm sản xuất Cobb-Douglas.
Tuy nhiên, lý thuyết về chi phí giao dịch của Ronald Coase (1937) cho thấy lý do chính để thành lập doanh nghiệp là do có các chi phí giao dịch khi sử dụng cơ chế giá cả. Hay nói cách khác, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường luôn có sự tương tác của các chủ thể khác ngoài doanh nghiệp, và những sự tương tác này tạo ra chi phí, trong khi doanh nghiệp là tổ chức có khả năng làm giảm các chi phí đó. Doanh nghiệp sẽ gánh chịu các chi phí nội bộ nhưng sẽ tăng trưởng nếu chi phí nội bộ thấp hơn chi phí giao dịch bên ngoài. Như vậy, doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các mối quan hệ, ra đời khi sự điều động các nguồn lực phụ thuộc vào một nhà doanh nghiệp (Coase, 1937).
Sự vận hành của thị trường tạo ra chi phí, và những chi phí giao dịch bao gồm: chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí phân tích và lựa chọn mức giá thích hợp, chi phí thương lượng, kí kết, chế tài hợp đồng. Ngoài ra, các yếu tố bất định của môi trường kinh doanh, hợp đồng không hoàn chỉnh, cũng như các chính sách của nhà nước, sự phân công lao động cũng là lý do để tồn tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi có chi phí giao dịch, các thất bại của thị trường, bao gồm: độc quyền, bất cân xứng thông tin, hàng hóa công, và ngoại tác, sẽ làm cho: (i) thị trường không tồn tại; (ii) thị trường không hiệu quả và phân bổ sai nguồn lực; (iii) nhà nước can thiệp, nhưng không hiệu quả (Nguyễn Xuân Thành, 2014). Như vậy, để phát triển doanh nghiệp cần giảm thiểu chi phí giao dịch bên ngoài, bằng cách thiết lập một thể chế hỗ trợ thị trường một cách hiệu quả.2 Lý thuyết về thể chế Mặc dù có nhiều định nghĩa về thể chế nhưng nghiên cứu này sử dụng định nghĩa thể chế của North (1990).
Thể chế là các quy tắc trò chơi trong xã hội, là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con người, hình thành nên mối quan hệ qua lại giữa con người. Thể chế bao gồm ba hợp phần quan trọng: thể chế chính thức, thể 6 chế không chính thức,và các cơ chế và biện pháp chế tài (thực thi từ bên trong và từ bên ngoài tổ chức). Nghiên cứu này chỉ tìm hiểu những thể chế chính thức trong môi trường kinh doanh ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp như hệ thống pháp luật, cơ chế thực thi giám sát. Nếu như doanh nghiệp hoạt động không có sự tương tác với các tác nhân khác, nghĩa là không có chi phí giao dịch thì theo North, thể chế không cần tồn tại.
Nhưng trên thực tế, chi phí giao dịch luôn tồn tại ở nhiều hoạt động khác nhau (như tìm kiếm thị trường, chi phí quản lý, chi phí không chính thức), là nguyên nhân dẫn đến thất bại thị trường, và là cơ sở để nhà nước can thiệp bằng các chính sách không phù hợp khiến cho thị trường bị bóp méo thêm. Điều này đòi hỏi sự ra đời của các thể chế để hỗ trợ thị trường hữu hiệu. Các nghiên cứu cho thấy các thể chế kém phát triển đã ràng buộc các doanh nghiệp khiến họ không thể tăng trưởng đến qui mô hiệu quả (Kumar và cộng sự, 2001), hay nói cách khác quy mô doanh nghiệp là hình ảnh thể hiện cho chất lượng thể chế của quốc gia đó (Beck và cộng sự, 2005). Tựu chung lại, thiết lập một thể chế hữu hiệu sẽ giúp thị trường hiệu quả thông qua các phương thức: - Tạo tín hiệu tốt cho thị trường và giải phóng thị trường; - Nâng cao sức cạnh tranh cho thị trường; - Giảm thiểu chi phí giao dịch; - Phân bổ nguồn lực hiệu quả và nâng đỡ các chủ thể tham gia thị trường.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nghiên cứu này dựa trên định nghĩa của Ngân hàng Thế giới về doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Qua đó doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ có không quá 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ có từ 10 tới 50 lao động, doanh nghiệp vừa có từ 50 tới 300 lao động và từ trên 300 lao động là doanh nghiệp lớn. Ngoài tiêu chí về lao động toàn thời gian, Ngân hàng Thế giới cũng sử dụng tiêu chí về tài sản hoặc doanh thu của doanh nghiệp. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tập trung vào số lượng lao động toàn thời gian để phân loại quy mô của doanh nghiệp.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp Quy mô DN Lao động Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 <$100.000 Nhỏ <50 <$3 triệu <$3 triệu Vừa <300 <$15 triệu <$15 triệu Nguồn: Ngân hàng Thế giới 2003 Định nghĩa này được Chính phủ Việt Nam thừa nhận và có sự điều chỉnh khi đưa vào Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về Trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa, sau đó là Nghị định số 56/2009/NĐ-CP (CIEM, 2015). Theo đó, doanh nghiệp siêu nhỏ có dưới 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ có từ 10 đến 200 lao động, doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động, riêng trong ngành thương mại và dịch vụ thì quy mô nhỏ có từ 10 đến 50 lao động, quy mô vừa có từ 50 đến 100 lao động.
Nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa và tiêu chí về lao động của Ngân hàng Thế giới để phân biệt quy mô doanh nghiệp, riêng các ngành dịch vụ thì sẽ sử dụng tiêu chuẩn phân loại của Việt Nam để phù hợp với quy mô ngành dịch vụ ở Việt Nam hiện nay.2 Hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và lợi thế của doanh nghiệp lớn Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một đặc điểm của các nền kinh tế tăng trưởng nhanh (Beck và cộng sự, 2005). Tuy nhiên có nhiều quan điểm khác nhau về quy mô của doanh nghiệp. “Nhỏ mới đẹp” (Small is beautiful) là quan điểm phổ biến vào những năm 1970 dựa trên tư tưởng ban đầu của Leopold Kohr và được Fritz Schumacher kế thừa. Quan điểm này cho rằng doanh nghiệp chỉ nên sản xuất vừa đủ (enoughness) để đáp ứng nhu cầu bản thân và chính phủ các quốc gia không nên ủng hộ doanh nghiệp mở rộng quy mô vì như vậy sẽ phải đẩy mạnh khai thác nguồn lực tự nhiên, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của một quốc gia.
Đây là quan điểm chủ đạo hình thành nên Kinh tế học Phật giáo (Buddhist economics) và được phổ biến nhất trong thời kỳ khủng hoảng năng lượng năm 1973 và các thách thức nổi lên của toàn cầu hóa. Một số ý kiến ủng hộ các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì lợi thế của chúng, đó là khả năng đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm và chi phí quản lý thấp giúp doanh nghiệp hoạt 8 động hiệu quả. Nhiều nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò như “cỗ máy tăng trưởng” chịu trách nhiệm tạo đa số việc làm mới. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra sai lầm của quan điểm “nhỏ mới đẹp”.
Pincus (2012) cho rằng hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp thâm dụng lao động phụ thuộc vào chi phí tương đối giữa lao động và vốn và khả năng thay thế giữa 2 yếu tố sản xuất này. Việc chuyển đổi công nghệ hiện đại ở doanh nghiệp lớn sang công nghệ lạc hậu và thâm dụng lao động ở doanh nghiệp nhỏ sẽ tạo ra một tổn thất ròng về sản lượng cho xã hội, cũng như làm tăng chi phí cơ hội của người lao động ở doanh nghiệp nhỏ. Pincus sử dụng kết quả của Ian Little, Dipak Mazumdar và John Page (1987) để minh họa cho lập luận của mình. Nghiên cứu này cho thấy (i) sự thâm dụng vốn và năng suất lao động tăng theo quy mô doanh nghiệp (tính theo số đo lao động); (ii) vốn được sử dụng hiệu quả hơn ở các doanh nghiệp lớn, theo các phát hiện ở Hàn Quốc, Thái Lan và Ấn Độ; (iii) các doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết hoạt động trong các ngành thâm dụng lao động, nhưng có thể thâm dụng vốn do sử dụng công nghệ tốn kém được vận hành bởi số ít công nhân.
Ở góc độ tạo ra việc làm cho xã hội, các doanh nghiệp nhỏ cũng không tạo ra nhiều việc làm ròng hơn so với doanh nghiệp lớn vì doanh nghiệp nhỏ dễ phá sản dẫn đến thất nghiệp cho người lao động. Nghiên cứu của Kelly (2007) cho thấy, mặc dù doanh nghiệp nhỏ ở Hòa Kỳ tạo ra 36% tổng số công việc mới (gross new jobs) trong giai đoạn 1990-2004, tương đương 1,8 triệu công việc mỗi năm nhưng lại làm mất đi 1,6 triệu công việc do doanh nghiệp đóng cửa. Như vậy các doanh nghiệp nhỏ chỉ tạo ra khoảng 13% công việc ròng mới cho Hoa Kỳ trong hơn 10 năm. Kết quả này nhất quán với nghiên cứu trước đó của Little (1987) khi ông nhận thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa không thâm dụng lao động hơn, mà cũng chẳng tốt hơn trong việc tạo ra việc làm so với doanh nghiệp lớn.
Chất lượng việc làm ở các doanh nghiệp nhỏ cũng thiếu sự ổn định so với các doanh nghiệp lớn. Pincus cho rằng doanh nghiệp lớn với yêu cầu cao hơn về tay nghề sẽ có mức đãi ngộ tốt hơn so với doanh nghiệp nhỏ, vốn thường sử dụng lao động bán thời gian, ít kỹ năng chuyên môn. Quan điểm này được ủng hộ bởi nghiên cứu của Brown, Medoff và Hamilton (1990) và Rosenzweig (1988).