CHƯƠNG 1 MOT SO VAN ĐÈ CHUNG VE TÍN DỤNG NGAN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NEN KINH TE 1.1 Ví trí của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa: Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền công nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì sự khởi đầu của họ là những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ, qúa trình phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn với qúa trình tích tụ tập trung tư bản, sự cạnh tranh gay gắt giữa các xí nghiệp trong và ngoài nước đã tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay. Tuy vậy, ngay cả những nước tư bản phát triển, các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng khẳng định. Trong nền kinh kinh tế thị trường doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chế; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nước khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học - công nghệ và nguôn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường, phát triển sản xuất, tạo việc làm và năng cao đời sống cho người lao động. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không qua 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong qúa trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thé áp dung đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn va lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên [18]. Hiện nay trên thế giới không có định nghĩa chung thống nhất về doanh nghiệp nhỏ và vừa, hầu hết các nước đều đưa ra những định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên tình hình kinh tế xã hội của nước mình.1: Các định nghĩa về DNNVV6 một vài nước Châu A.
T T Quốc gia Định nghĩa về DNNVV Thước đo 1 |Indonesia | Không quá 100 lao động Lao động Khung quo 300 lao động hoặc giỏ trị tài sản là 10 triệu yờn; 2 | Nhật Bon buụn - khung quo 50 lao động, 30 Lao động va l triệu yờn giỏ trị tài sản; tài sản Bỏn lẻ — khụng quỏ 50 lao động, 10 triệu yờn giỏ trị tài sản. ` „| Chế tạo — không quá 300 lao động; Dịch a 3. | Han Quốc | H hong quá 30 lao động ' ._ | Biến động, doanh thu khụng qué 25 triệu | CÔđụng, 4 |Malaysia | gs 3ï và 150 lao độn, ong quỹ độngvà lao 5 Trung Thay đôi theo ngành không quá 100 lao Lao động Quéc động nae. R oa Tai san va 6 | Phillipin | Khung quo 200 lao động, 40 triệu Peso lao động l Chế tạo — tai sản có định không quá 12 _ | Tài sản và 7 |Singapore |,.
+, e: ^ triệu đôla Singapore lao động -9- DN dịch vụ không quá 100 nhân công Chế tạo — vốn khụng quỏ 40 triệu đài tệ, tổng tài sản khụng quỏ 120 triệu đài tệ. Vốn, tài sản 8 | Đài Loan | Trong kinh doanh vận tải và coc dịch vụ và doanh sô khỏc, doanh thu khụng quỏ 40 triệu đài tỆ. Không quá 200 lao động đối với ngành À hiề 1 đô “ R 9 | Thái Lan can n iêu lao ông ¬¬ Lao động và Không quá 100 triệu Bạt đôi với ngành | von đòi hỏi nhiêu von Nguồn: [9] 1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhó và vừa. Cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới, doanh nghiệp nhỏ và vừa nước ta có những đặc điểm tương tự như các quốc gia khác.
Tuy nhiên, do xuất phát từ những đặc điểm riêng có của doanh nghiệp nước ta dang trong giai đoạn chuyền đồi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên doanh nghiệp nhỏ và vừa nước ta còn có những đặc điểm riêng. - Quy mô vốn và lao động nhó: Phan lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa có lịch sử đi lên từ kinh tế tư nhân, hộ sản xuat gia đình, thuộc nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống, nên trong hoạt động kinh doanh doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, hoạt động không chỉ trong luỹ tre làng, chưa có điều kiện tích tụ tap trung vốn nên quy mô vốn tự có của doanh nghiệp nhỏ, không bền vững. Số lượng lao động ít, trong giai đoạn sơ khai thì phần lớn chủ doanh nghiệp cũng đồng thời là thợ, số lao động thuê và tuyển dụng ở mức thấp. - Nguồn nhân lực thiếu và trình độ tay nghề người lao động thấp: Trong điều kiện thị trường lao động hoạt động tích cực, các DNNVV không đủ khả năng để cạnh tranh với doanh nghiệp lớn trong việc thu hút -10- những lao động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính, cơ hội nghề nghiệp.
Hơn nữa định kiến về của người lao động về khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn rat lớn, nên phan lớn người lao động trong các DNNVV là dân nghèo thành thị, nông dân nhàn rỗi ra thành phố tìm việc, chủ yếu là các lao động thủ công, thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, tác phòng tuỳ tiện, không được đào tạo qua các cơ sở day nghề. Hầu hết chủ doanh nghiệp không có kế hoạch đào tạo dé sử dụng lâu dài người lao động. Theo kết quả điều tra “An toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ” được tai trợ bởi chương trình ILO/Japan Multibilateral năm 2003: Trong tổng số 6.465 lao động làm việc trong 202 DNNVV có: Lao động có trình độ đại học và cao đẳng chiếm: 14,4% (năm 2001 là 6,18%); Lao động có trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật chiếm: 27,8%; Không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 57,8%. - Năng lực tổ chức, quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp còn hạn chế: Chủ doanh nghiệp thường là những người đi lên từ hoạt động sản xuất kinh doanh hộ gia đình, cá thể hoặc họ là những kỹ sư, kỹ thuật có tay nghề đứng ra thành lập doanh nghiệp.
Họ vừa là nhà quản lý doanh nghiệp, vừa là người tham gia trực tiếp vào sản xuất, nên mức độ chuyên môn hoá không cao. Nhìn chung, trình độ chuyên môn chưa cao, phần lớn chưa qua khoá đào tạo chính quy về quản lý, đại bộ phận chủ doanh nghiệp (69,5%) quản lý bằng kinh nghiệm. - Trình độ công nghệ, thiết bị: Vào đầu những năm 90, công nghệ và thiết bị sử dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở tư nhân quá lạc hậu, tốc độ đổi mới quá chậm, khoảng 90% các DNNVV của tư nhân sử dụng trang thiết bị cũ kỹ lạc hậu từ 10 — 20 năm do các doanh nghiệp Nhà nước thanh ly, thải loại [5]. Trong 5 năm gần đây, với chủ trương của Nhà nước về phát triển DNNVV nên chủ doanh nghiệp bắt đầu có những đầu tư -11- ban đầu vào công nghệ.
Do những hạn chế về nguồn lực tài chính, quy mô sản xuất nên ứng dụng công nghệ thiết bị hiện đại vào sản xuất vẫn ở mức thấp. Tuy nhiên, DNNVV rất linh hoạt trong ứng dụng công nghệ, họ thường có những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đổi mới nâng cấp công nghệ, thiết bị cũ, tạo sự linh hoạt nhạy bén trong việc đa dạng hoá các sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, nhanh chóng thay đổi quy trình sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. - Doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu mặt bằng san xuất, kinh doanh: DNNVV nước ta chủ yếu thuộc thành phan kinh tế tư nhân mới được phục hồi và phát triển, không có thời kỳ tích luỹ nguyên thủy như kinh tế tư bản tư nhân ở các nước tư bản. Ngoài thiếu vốn, công nghệ thiết bị lạc hậu, năng lực quản ly hạn ché, thì doanh nghiệp còn thiếu mặt bằng sản xuất.
Mặc dù trong thời gian qua, Nhà nước đã tạo điều kiện để doanh nghiệp được giao đất, thuê đất nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn thiếu đất sản xuất kinh doanh, phải đi thuê lại đất hoặc sử dụng diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc ổn định và mở rộng đầu tư chiều sâu hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Năng lực cạnh tranh sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế: Các hoạt động về marketing, xây dựng thương hiệu sản phẩm, mở rộng thị trường cung cấp nguyên vật liệu và thị trường đầu ra cho sản phẩm chưa được doanh nghiệp quan tâm và có kế hoạch phát triển, qui mô sản xuất thường ở phạm vi tỉnh, thành, việc mở rộng thị trường trong và ngoài nước rất khó khăn. Với hạn chế đó, DNNVV rất dễ bị tổn thương, trước những biến động, thậm trí là biến động nhỏ của thị trường về nguyên vật liệu, giá cả, cung cầu sản phẩm.
Các sản phẩm chủ yếu ở dạng sơ chế nguyên liệu hoặc lắp ráp hoặc gia công hàng xuất khâu.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế. Một là: DNNVV đóng góp quan trọng vào tổng sản phẩm quốc dân và tốc độ tăng trướng kinh tế, số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh ké từ khi Nhà nước ban hành Luật doanh nghiệp và Nghị định 90/2001/NĐ- CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa, năm 2004 tăng 30,9%, 2005 tăng 32,2%. Ngoài ra DNNVV đã hoạt động năng động hơn và có hiệu quả hơn so với các khu vực doanh nghiệp khác, vươn lên đóng góp vào nền kinh tế chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của cả nước [1, 4].