phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng,: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH ĐỂ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH ĐỂ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở TỈNH HẢI DƢƠNG Chƣơng 3: CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG TÀI CHÍNH ĐỂ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA TỈNH HẢI DƢƠNG 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH ĐỂ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ 1. Khái niệm công nghệ Theo Từ điển Bách Khoa tiếng Việt định nghĩa công nghệ là sự áp dụng khoa học vào trong thực thể để tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Theo Từ điển kỹ thuật của Liên Xô (cũ): “Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”.
Theo quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ công nghệ để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng - một sự phát triển của khoa học thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động của con ngƣời. Một số tổ chức quốc tế đã đƣa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau: - Tổ chức PRODEC, năm 1982 cho rằng, "Công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ". - Ngân hàng thế giới, năm 1985 đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: "Công nghệ là phƣơng pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: + Thông tin về phƣơng pháp.
+ Phƣơng tiện, công cụ sử dụng phƣơng pháp để thực hiện việc chuyển hoá. + Sự hiểu biết phƣơng pháp hoạt động nhƣ thế nào và tại sao". - Tổ chức OECD, gồm các nƣớc phát triển châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canađa lại có một định nghĩa chung: "Công nghệ đƣợc hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng đƣợc định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu 12 biết của con ngƣời thì sẽ đạt đƣợc một kết quả định trƣớc (và đôi khi đƣợc kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định". Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) đƣa ra khái niệm về công nghệ nhƣ sau: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phƣơng pháp và các hệ thống dùng cho việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ”. Định nghĩa của ESCAP đã nói rõ không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ đƣợc mở rộng ra tất cả các hoạt động của xã hội và bao gồm các phần vật thể là máy móc và thiết bị. Năm 1987, tác giả Trần Ngọc Ca đã đƣa ra một khái niệm về công nghệ nhƣ sau: “Công nghệ có thể đƣợc hiểu nhƣ mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phƣơng pháp (gọi là phần mềm) đƣợc lƣu giữ dƣới các dạng khác nhau (con ngƣời, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tƣ liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) đƣợc áp dụng vào môi trƣờng thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”. Theo Luật KH&CN năm 2013 đã đƣa ra định nghĩa: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [25].
Công nghệ bao gồm bốn yếu tố cấu thành: - Phần vật tƣ kỹ thuật: Bao gồm các công cụ, thiết bị, máy móc, phƣơng tiện và các cấu trúc hạ tầng xây dựng nhƣ nhà xƣởng. - Phần con ngƣời: Đây là thành phần của công nghệ đƣợc hàm chứa trong khả năng công nghệ của con ngƣời vận hành, sử dụng công nghệ. - Phần thông tin: Bao gồm tƣ liệu, dữ liệu, bản mô tả sáng chế, bí quyết kỹ thuật. - Phần tổ chức: Bao gồm những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân trong công nghệ, kể cả những quy trình tuyển dụng, đề bạt, đào tạo,… 13 1.
Khái niệm đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ phát sinh từ quá trình phát triển kinh tế xã hội. Với sự tác động của nền khoa học kỹ thuật tiên tiến cũng nhƣ xuất phát từ nhu cầu thực tế về sản phẩm và dịch vụ, hiện trạng công nghệ của các ngành sản xuất không ngừng nâng cao tạo tiền đề cho quá trình đổi mới công nghệ diễn ra ngày càng nhanh hơn và mạnh hơn. Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ. Có quan niệm cho rằng đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, nếu nhƣ chỉ có một sự thay đổi nhỏ về thành phần công nghệ thì không nên coi là đổi mới công nghệ, chỉ nên gọi đó là cải tiến công nghệ. Từ đó, chúng ta có thể đƣa định nghĩa về đổi mới công nghệ nhƣ sau: “Đổi mới công nghệ là việc thay thế phần quan trọng (cốt lõi, cơ bản) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn”. Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chƣa có một định nghĩa cụ thể và chính thống nào cho khái niệm này, tuy nhiên, về cốt lõi có thể có 5 trƣờng hợp đổi mới công nghệ: (1) Đƣa ra sản phẩm mới; (2) Đƣa ra một phƣơng pháp sản xuất mới hoặc thƣơng mại mới; (3) Chinh phục thị trƣờng mới; (4) Sử dụng nguồn nguyên liệu mới; (5) Tổ chức mới đơn vị sản xuất. Đổi mới công nghệ có thể đƣa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới, chƣa có trên thị trƣờng công nghệ hoặc mới ở nơi sử dụng nó lần đầu và trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới.
Vai trò của đổi mới công nghệ Đối với sự phát triển của một doanh nghiệp, công nghệ luôn là yếu tố sống còn. Mỗi một công nghệ có một vòng đời và tạo ra một chu kỳ sản phẩm. 14 Tức là nó đƣợc sinh ra, phát triển và cuối cùng suy vong. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp không nhận thức đƣợc điều này, coi công nghệ của doanh nghiệp mình là vĩnh cữu thì nhất định sẽ bị các doanh nghiệp khác vƣợt qua bằng những công nghệ tiên tiến hơn, hiện đại hơn.
Đổi mới công nghệ mang lại những lợi ích sau cho doanh nghiệp: - Chất lƣợng sản phẩm đƣợc nâng cao rõ rệt. Đối với mỗi doanh nghiệp, đây là vấn đề vô cùng quan trọng, mang lại những lợi ích thiết thực, chất lƣợng sản phẩm chính là yếu tố giúp doanh nghiệp đứng vững trong môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt hiện nay. - Từ việc nâng cao đƣợc chất lƣợng sản phẩm sẽ làm cho doanh nghiệp duy trì, củng cố và mở rộng thị phần của sản phẩm. Mức độ “phủ sóng” sản phẩm của doanh nghiệp không ngừng tăng lên, sản phẩm làm ra nhiều từ đó thúc đẩy lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên.
- Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ cũng mở rộng sản phẩm, tạo thêm chủng loại mới của sản phẩm. Bên cạnh những sản phẩm truyền thống, doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều sản phẩm mới, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho ngƣời tiêu dùng, phục vụ đa dạng nhu cầu của con ngƣời. - Đáp ứng đƣợc các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ và các quy định ngày càng khắt khe đƣợc thế giới và các quốc gia xây dựng lên. Đây là điều vô cùng quan trọng trong thời kỳ “toàn cầu hóa” hiện nay.
Các quốc gia có xu hƣớng bảo hộ hàng hóa sản xuất trong nƣớc bằng việc dựng lên những hàng rào kỹ thuật “phi thuế quan” bằng những quy định, tiêu chuẩn, luật lệ nhằm ngăn chặn hàng nƣớc ngoài xâm nhập. Do vậy, chỉ những hàng hóa có chất lƣợng tốt, tuân thủ đƣợc nhiều yêu cầu kiểm tra hàng hóa nghiêm ngặt mới có thể tự do di chuyển toàn cầu. - Giảm tiêu hao nguyên vật liệu, năng lƣợng; Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao độ an toàn sản xuất; Giảm tác động xấu đến môi trƣờng sống. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm Thuật ngữ doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc du nhập vào nƣớc ta từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, khi nƣớc ta có sự chuyển dịch từ nền kinh tế tập 15 trung bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng và sau này ngày càng đƣợc sử dụng phổ biến hơn.Trong thời kỳ sau đổi mới các tiêu chí về doanh nghiệp nhỏ và vừa chƣa có quy định thống nhất, nên các Bộ, Ngành và các tổ chức khác nhau ở Việt Nam có những tiêu chí áp dụng khác nhau về việc xác định loại hình doanh nghiệp này. Theo tiêu chí của Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam đƣa ra tiêu chuẩn là doanh nghiệp có giá trị tài sản nhỏ hơn 10 tỷ đồng và số lao động thƣờng xuyên dƣới 500 ngƣời. Liên Bộ lao động và Tài chính: Lao động thƣờng xuyên dƣới 100 ngƣời, doanh thu hàng năm nhỏ hơn 10 tỷ, vốn pháp định nhỏ hơn 1 tỷ đồng. Tại một nghiên cứu do UNIDO trong dự án VIE/US/95/004 hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thì cho rằng: Lao động nhỏ hơn 200 ngƣời, vốn đăng ký nhỏ hơn 0,4 triệu đô la (khoảng 5 tỷ đồng).
Việc chƣa có một tiêu chí thống nhất về loại hình doanh nghiệp này, nên theo công văn số 681/CP - KTP ngày 20/06/1998 của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ có ý kiến về tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có vốn điều lệ dƣới 5 tỷ đồng (khoảng gần 0,4 triệu đô) và số lao động trung bình hàng năm dƣới 200 ngƣời.