Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 9 luan an Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nước đối với NLCT của DNNVV trong hội nhập KTQT Chương 3. Thực trạng về vai trò nhà nước đối với NLCT của DNNVV trong hội nhập KTQT ở việt nam Chương 4.
Một số giải pháp phát huy vai trò nhà nước đối với NLCT của DNNVV trong hội nhập KTQT 10 luan an CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan những nghiên cứu trong nƣớc 1. Nghiên cứu liên quan đến vai trò của nhà nƣớc trong HNKTQT Trong lĩnh vực thương mại và phát triển DN trong nền kinh tế, Nhà nước thể hiện vai trò thông qua ban hành các chính sách hỗ trợ đối với các DNNVV được chứng minh trong Luận án tiến sĩ Giải pháp hỗ trợ DN thương mại nhỏ và vừa ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập KTQT của tác giả Lưu Khánh Cường (2010). Tác giả khẳng định rằng Nhà nước hỗ trợ DNNVV thương mại là cần thiết trong điều kiện hội nhập KTQT, nếu không có chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì DNNVV thương mại sẽ không thể phát triển trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ và nếu có được chính sách hỗ trợ thì DNNVV thương mại phát triển sẽ giúp khai thác và phát huy hiệu quả vai trò của khu vực kinh tế này.
Chính sách của Nhà nước tác động trực tiếp đến điều kiện kinh doanh của DNNVV thương mại, chi tiết hơn là các chính sách hỗ trợ như chính sách tài chính đối với DNNVV, chính sách hỗ trợ mặt bằng và địa điểm kinh doanh, hỗ trợ vận tải và hỗ trợ vận tải hàng hóa, hỗ trợ cung cấp thông tin, hỗ trợ tư vấn, đào tạo nâng cao trình độ quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thương mại. Các chính sách hỗ trợ có những thành tựu nhất định nhưng còn tồn tại nhiều hạn chế. Những cơ hội và thách thức đối với DN trong hội nhập KTQT, quyền lợi và nghĩa vụ của các DN trong hội nhập KTQT được phân tích trên diện rộng. Đặc biệt thực trạng bảo vệ lợi ích của DN trong thương mại quốc tế là nội dung cuốn sách đề cập khá kỹ lưỡng, bên cạnh đó, các kiến nghị và giải pháp bảo vệ lợi ích DN, những yếu tố về NLCT của DN Việt Nam trong cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập KTQT, cụ thể là những giải pháp bảo vệ lợi ích DN đối với MFN và NT.
Giải pháp bảo vệ DN đối với chống bán phá giá, giải pháp 11 luan an đối với chống trợ cấp, giải pháp tăng cường vai trò của hệ thống sở hữu trí tuệ và hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ, giải pháp xây dựng và bảo vệ thương hiệu…[9] Mảng lý luận về vai trò của nhà nước đối với DNNVV như Nhà nước có vai trò phát triển môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV và Nhà nước thực hiện tốt chức năng vĩ mô tạo sự ổn định, bền vững của nền kinh tế cũng được Tác giả Lê Quang Mạnh (2011) nghiên cứu trong Luận án tiến sĩ Kinh tế: “Phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển DNNVV ở Việt Nam” [61] Tác giả Phạm Văn Hồng với công trình Phát triển DNNVV ở Việt Nam trong hội nhập KTQT (2007), tác giả Trương Thị Thu Hà với công trình “Chính sách phát triển DNNVV thực tiễn và giải pháp” (2009), tác giả Đào Duy Huân Phát triển DNNVV ở Việt Nam phù hợp với tái cấu trúc và hội nhập KTQT (2012), tác giả Trần Thị Thu Thủy Nghiên cứu chính sách và giải pháp nâng cao NLCT của các DN vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông, lâm sản trong điều kiện hội nhập KTQT (2009) đều chứng minh rằng sự phát triển của DNNVV ở Việt Nam rất cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước Việt Nam, bên cạnh đó các tác giả đưa ra các giải pháp chính sách để Nhà nước hỗ trợ DNNVV phát triển trong giai đoạn hội nhập KTQT ngày càng sâu rộng hơn [46][35][47][85]. Còn tác giả Nguyễn Thế Bính với công trình Kinh nghiệm quốc tế về chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV và bài học cho Việt Nam, [19] viết về các chính sách hỗ trợ DNNVV của Chính phủ ở các quốc gia, bao gồm: Nhật; Hàn; Đài Loan; Thái Lan; Sing-ga-po; Mỹ; Cộng hòa Liên bang Đức qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Nhà nước ban hành các chính sách hỗ trợ DNNVV phù hợp với đặc thủ của Việt Nam. Nghiên cứu liên quan đến NLCT của DNNVV trong HNKTQT Luận chứng về lý luận và thực tiễn, về các yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường tác động tới NLCT của DN trong hội nhập, những lý luận về NLCT của DN, những yếu tố tác động đến NLCT của DN, lợi thế cạnh tranh của DN; Các tiêu chí và phương pháp đánh giá khả năng cạnh tranh của DN được tác giả Vũ Trọng Lâm nghiên cứu trong công trình “Nâng cao sức cạnh tranh của các DN trong tiến trình hội nhập KTQT”(NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006), bên cạnh đó tác giả cũng 12 luan an phân tích những bài học bổ ích từ kinh nghiệm của một số quốc gia tương đồng với Việt Nam để từ đó đề xuất những giải pháp hữu ích cho các DN và Nhà nước và kinh nghiệm về thực hiện các chính sách hỗ trợ các DN.[56] Lê Thị Mỹ Linh (2010), trong luận án tiến sĩ“Phát triển nguồn nhân lực trong DNNVV ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế”, đã xác định và đánh giá một cách tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo cán bộ quản lý trong DNNVV, bao gồm các yếu tố thuộc về DNNVV và các yếu tố bên ngoài DN. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố thuộc về DNNVV có ảnh hưởng rõ rệt đến đào tạo cán bộ quản lý.
Bên cạnh đó, luận án cũng chỉ ra rằng, đào tạo cán bộ quản lý có ảnh hưởng tích cực đến kỹ năng quản lý và kết quả hoạt động của DNNVV. Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận liên quan đến đào tạo cán bộ quản lý trong DNNVV ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT ngày càng sâu, rộng. Cụ thể, luận án đã xác định và làm rõ các đặc điểm về nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, tổ chức đào tạo cán bộ quản lý trong DNNVV đáp ứng các yêu cầu của hội nhập KTQT. [57] Phạm Văn Kim, Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển Công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam, nghiên cứu vai trò của DNNVV trong phát triển công nghiệp phụ trợ như quyết định sự phát triển của công nghiệp phụ trợ, giúp công nghiệp phụ trợ khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước để phát triển, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và tính chủ động của công nghiệp phụ trợ, tạo nhu cầu và thị trường cho phát triển công nghiệp phụ trợ.
Với sự nghiên cứu này cho thấy thêm khả năng của DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ của Việt Nam.[54] Vốn xã hội của DNNVV ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (nghiên cứu trường hợp ba làng nghề ở đồng bằng sông Hồng) của Nguyễn Vũ Quỳnh Anh cho thấy khả năng cạnh tranh của DNNVV không chỉ tính bằng giá trị hữu hình mà cần tính cả giá trị vô hình là vốn xã hội bao gồm uy tín, các giá trị, chuẩn mực, quan hệ xã hội của DN mà DN có thể sử dụng vốn đó để tạo niềm tin tiếp cận nguồn tiền từ các tổ chức tín dụng. [5] 13 luan an Bài nghiên cứu Phát triển nguồn tài chính cho DNNVV tại Hà Nội, tác giả Trần Thị Thanh Tú, Đinh Thị Thanh Vân đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn vốn của DNNVV tại Hà Nội và chỉ ra: (i) nguồn tài chính của DNNVV tại Hà Nội chủ yếu là vốn chủ sở hữu của các DN; (ii) nguồn vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng cung cấp cho DNNVV chưa tương xứng với tiềm năng; (iii) những nguyên nhân cơ bản trong việc hạn chế DNNVV huy động vốn xuất phát từ yếu tố vĩ mô, trình độ nhận thức, quản lý của DN và rào cản về tài sản thế chấp của ngân hàng. Từ đó các tác giả để ra các giải pháp để phát triển nguồn tài chính cho DNNVV, tập trung vào: (i) đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng quản lý, quản trị kinh doanh cho DNNVV để đối phó với rủi ro và khủng hoảng; (ii) nghiên cứu xây dựng các sản phẩm tài chính mới gắn với các cam kết về môi trường và xã hội của Hà Nội; (iii) phát triển các sản phẩm cho vay không cần tài sản thế chấp.[97] Phạm Thu Hương với luận án NLCT của DNNVV, nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội, (2017) đã cung cấp các quan điểm về NLCT của DNNVV đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến NLCT của DNNVV và đưa ra kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước các nội dung cần hỗ trợ cho DNNVV.[78] Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011), Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở thành phố Cần Thơ, cho thấy NLCT của DNNVV phụ thuộc lớn vào sự hỗ trợ của Nhà nước.[66] Áp lực cạnh tranh đối với DN vừa và nhỏ trong bối cảnh hội nhập và lạm phát: phân tích tình huống ngành bất động sản tại Việt Nam của Nguyễn Trọng Hoài & Huỳnh Thanh Điền cho thấy NLCT của DNNVV trong lĩnh vực bất động sản ở Việt Nam bị hạn chế bởi các công cụ tài chính cho ngành bất động sản và sự thiếu liên kết giữa các DNNVV với nhau và giữa các DNNVV với các DN có quy mô lớn, cũng như các DN có liên quan. Để hạn chế áp lực cạnh tranh đe dọa sự tồn 14 luan an tại của DNNVV, Chính phủ nên xây dựng hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ tài chính phục vụ thích hợp cho ngành bất động sản, cũng như các chính sách kích thích sự liên kết giữa DNNVV với các DN có quy mô lớn và các thành phần kinh tế khác nhau.
Thực trạng năng lực của DNNVV và mối liên kết với DN FDI. Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp đối với chính sách về mối liên kết giữa DN sản xuất trong nước và DN FDI. Tổng quan những nghiên cứu nƣớc ngoài 1. Những nghiên cứu về vai trò của nhà nƣớc Michael E.
Porter, Lợi thế cạnh tranh quốc gia, NXB Trẻ năm 2010.