chương 1 Ở chương này, tác giả xác định vấn đề cần nghiên cứu dựa trên thực trạng tín dụng của ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Cần Thơ, xác định mục tiêu nghiên cứu cũng như phạm vi và giới hạn nội dung nghiên cứu của đề tài và tiến độ thực hiện đề tài. Từ đó, xây dựng cấu trúc của luận văn sao cho phù hợp với yêu cầu của vấn đề nghiên cứu. 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận Khái niệm về cho vay, cho vay khách hàng doanh nghiệp Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay.
Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng hay nói cách khác là cho vay. Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010) thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” “Cho vay đối với DNNVN tại NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho DNNVN một khoản tiền đế sử dụng vào một mục đích nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.” (Tô Ngọc Hưng, 2009) Vậy cho vay khách hàng doanh nghiệp: là khoản vay áp dụng cho khách hàng là các tổ chức kinh tế phục vụ hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp.
Phân loại cho vay các doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Theo giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại (Lê Trung Thành, 2002), hoạt động cho các doanh nghiệp vay tại ngân hàng thương mại có thể phân loại theo những tiêu chí sau đây: 2.1 Phân loại theo thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa 2 chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn thỏa thuận. 6 Từ đó, cho vay ngắn hạn là những loại hình cho vay có khoảng thời gian kể từ khi bắt đầu giải ngân đến khi hoàn trả nợ vay, thường là dưới 1 năm. Cho vay trung và dài hạn: Đây là hình thức cho vay trung và dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp như mua sắm thiết bị, mở rộng sản xuất, cho vay thực hiện các dự án đầu tư, là khoản vay có thời hạn trên 1 năm.2 Phân loại theo mục đích sử dụng vốn Dựa vào mục đích sử dụng vốn, cho vay thường chia ra các loại sau: Cho vay sản xuất kinh doanh: là khoản vay vốn bổ sung vốn lưu động, sử dụng trang trải các chi phí sản xuất, mua sắm thiết bị phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp. Cho vay cá nhân: Là khoản cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm vật dụng tiêu dùng, xây dựng, sửa chữa nhà, các khoản vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.3 Phân loại theo đối tượng khách hàng Cho vay khách hàng doanh nghiệp: là khoản vay ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng là các tổ chức kinh tế.
Cho vay khách hàng cá nhân: Là khoản vay ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình.4 Phân loại theo phương thức cho vay Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng: ngân hàng áp dụng phương thức cho vay từng lần khi khách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên; Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục sản xuất, kinh doanh.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để giúp khách hàng chủ động thu xếp các nguồn vốn cần thiết nhằm thực hiện dự án đầu tư phát triển hoặc 7 phương án sản xuất kinh doanh. Khách hàng có quyền rút vốn trong thời hạn hiệu lực rút vốn của hợp đồng tín dụng dự phòng. Trong thời hạn hiệu lực rút vốn của hợp đồng khách hàng phải trả phí cam kết theo mức quy định của ngân hàng. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng.
Cho vay hợp vốn: Ngân hàng cùng một hoặc một số tổ chức tín dụng khác thực hiện cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng khác làm đầu mối dàn xếp. Vay theo hiệp định khung: Hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu, ngân hàng đã ký một số Hiệp định vay vốn trung và dài hạn với các ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật. Cho vay ủy thác: Ngân hàng cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước theo hợp đồng nhận ủy thác cho vay đã ký kết với cơ quan đại diện của Chính phủ hoặc tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước, các khoản vay như: Vay ODA: nguồn vốn từ các Chính phủ nước ngoài, Các tổ chức như NH Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á.5 Phân loại theo đảm bảo tín dụng Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng cho vay dựa trên mức độ tín nhiệm đối với khách hàng. Tuy nhiên để đảm bảo thu hồi được khoản nợ vay, ngân hàng còn quan tâm đến đảm bảo bằng vật chất và khả năng hoàn trả đúng hạn của khách hàng.
Điều này giúp cho ngân hàng giảm thiểu được rủi ro vì lý do nào đó mà khách hàng không trả được nợ đúng hạn thì ngân hàng có thể thu hồi tài sản để thu hồi nợ. Ngoài ra, tài sản đảm bảo còn là động lực giúp cho khách hàng ý thức tốt hơn về việc trả nợ và hạn chế khách hàng có ý định chiếm đoạt vốn vay của ngân hàng. Cho vay thế chấp tài sản: Là hình thức khách hàng dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ với bên cho vay. Cho vay bảo lãnh: Khách hàng có thể sử dụng bảo lãnh của một bên thứ ba để đảm bảo khả năng trả nợ vay ngân hàng.
Trong hình thức này, thay vì sử dụng tài sản cụ thể làm vật đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, khách hàng bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba có uy tín trong lĩnh vực bảo lãnh, có năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật. 8 Đặc điểm tín dụng của khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Các DNNVV có nhu cầu vốn lớn trong nền kinh tế, tuy nhiên quy mô từng doanh nghiệp thì khoản vay không thực sự lớn đối với các ngân hàng. Về khả năng các ngân hàng luôn đáp ứng được nhu cầu vay vốn của DNNVV tại bất kỳ thời điểm nào mà không gặp khó khăn về thanh khoản. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng cho khách hàng là DNNVV luôn gặp những khó khăn rủi ro mất vốn cao do các doanh nghiệp không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu tối thiểu của ngân hàng.
Thời gian vay vốn cũng tùy thuộc vào mục đích vay vốn và hình thức vay mà các khoản vay của DNNVV có thời hạn ngắn, hay trung hạn. Quy mô vốn vay và thời hạn khoản vay: Quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này cũng có quy mô nhỏ và vừa, các khoản vay thường có giá trị thấp. Nhiều doanh nghiệp phải chấp nhận vay với số vốn thấp hơn và thời hạn ngắn hơn thực tế đòi hỏi của dự án kinh doanh. Chênh lệch về kỳ hạn cũng khiến cho doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền, khó khăn trong quản trị tài chính.
Những điều này có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, và do vậy cũng ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực trả nợ và lợi nhuận của DNNVV. Tuy nhiên quy mô khoản vay nhỏ, nhưng do số lượng DNNVV lại rất lớn nên xét trong toàn bộ nhóm dư nợ của đối tượng khách hàng DNNVV cũng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ của ngân hàng. Lãi suất cho vay: Với nhóm DNNVV ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất cao hơn so với doanh nghiệp lớn. Chi phí vốn vay cao do mức lãi suất cao trước đây cũng là một trong những khó khăn của DNNVV để sử dụng các khoản tín dụng bao gồm cả tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, lãi suất các khoản cho vay từ hệ thống ngân hàng đã từng bước được điều chỉnh giảm, làm giảm chi phí vốn vay và hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là phải làm sao để duy trì ổn định lãi suất và từng bước điều chỉnh mức lãi suất xuống thấp hơn nữa. Thủ tục vay vốn: Thủ tục vay phức tạp và thiếu tài sản đảm bảo là hai rào cản cơ bản khiến cho các DNNVV không vay được vốn.