chương 1, tác giả trình bày một số nghiên cứu đã được thực hiện bởi các tác giả trên thế giới và tại Việt Nam, trên cơ sở đó tác giả nhận xét và xác định hướng nghiên cứu của mình. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán nói chung + Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990): Positive Accounting Theory: A Ten Year Perspective Trong nghiên cứu của mình, Watts và Zimmerman (1990) đã tiến hành xem xét lại các nghiên cứu lý thuyết kế toán thực chứng trong những năm 1980 và cũng đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện nghiên cứu thực chứng trong lựa chọn kế toán. Để ra một quyết định hoặc có một kết quả kinh tế, nhà quản lý thường kết hợp nhiều lựa chọn kế toán cùng lúc với nhau, tuy nhiên nhiều dòng nghiên cứu tại thời điểm này chỉ quan tâm đến một lựa chọn kế toán tại một thời điểm, nghiên cứu này đã chỉ trích về tính hiệu quả của dòng nghiên cứu này.
Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự kết hợp giữa lý thuyết và điều tra thực nghiệm. Để giải thích cho mối tương quan thuận, nghịch khi lựa chọn chính sách kế toán, nghiên cứu đề ra ba giả thuyết dùng để giải thích gồm có: giả thuyết kế hoạch tiền thưởng (bonus plan hypothesis), giả thuyết nợ/vốn chủ sở hữu (debt/equity hypothesis) và giả thuyết chi phí chính trị (political cost hypothesis) trên cơ sở người quản lý là một người theo chủ nghĩa cơ hội và lý thuyết hợp đồng. Trong đó, giả thuyết kế hoạch tiền thưởng cho rằng khi doanh nghiệp trả tiền thưởng dựa trên lợi nhuận thì nhà quản lý sẽ có động cơ để sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo, nhằm tăng giá trị các khoản tiền thưởng nhận được. Giả thuyết 6 nợ trên vốn chủ sở hữu cho rằng nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận để tránh vi phạm những hạn chế trong cam kết vay vốn.
Giả thuyết chi phí chính trị thì giả định các doanh nghiệp lớn có nhiều khả năng lựa chọn CSKT nhằm làm giảm lợi nhuận báo cáo hơn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để giảm thiểu chi phí chính trị (chi phí chính trị là chi phí doanh nghiệp phải chịu thông qua một hành vi mang tính chính trị). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hai giả thuyết gồm giả thuyết nợ/vốn chủ sở hữu và giả thuyết chi phí chính trị được ủng hộ, còn giả thuyết kế hoạch tiền thưởng thì không được ủng hộ. Ví dụ, trong trường hợp doanh nghiệp không đạt được mức tối thiểu để có tiền thưởng, nhà quản lý lúc này lại có xu hướng làm giảm lợi nhuận năm nay để chuyển sang năm sau. Ba giả thuyết từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này, dựa vào đó để phát triển thêm nhằm dự đoán các tình huống thực nghiệm khác nhau.
+ Nghiên cứu Charles P. Cullinan (1999): International Trade and Accounting Policy Choice: Theory and Canadian Evidence Nghiên cứu của Charles nghiên cứu về ảnh hưởng của một nhân tố mới ảnh hưởng đến việc chọn chính sách kế toán là hoạt động trao đổi quốc tế. Tác giả đặt ra giả thuyết rằng hoạt động trao đổi quốc tế có thể khiến doanh nghiệp thực hiện việc lựa chọn CSKT theo hướng làm tăng lợi nhuận. Cụ thể, tác giả đặt ra hai giả thuyết: thứ nhất, doanh nghiệp xuất khẩu có nhiều khả năng lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận hơn doanh nghiệp không xuất khẩu; giả thuyết còn lại là doanh nghiệp nhập khẩu nhiều khả năng sẽ lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận hơn doanh nghiệp không nhập khẩu.
Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 291 doanh nghiệp về sự lựa chọn phương pháp trích khấu hao của doanh nghiệp tại Canada. Kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp nhập khẩu thường lựa chọn CSKT theo hướng lợi nhuận ngày càng tăng so với doanh nghiệp không có nhập khẩu, xuất khẩu thì lại không có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn có một số hạn chế nhất định, hạn chế này liên quan khả năng khái quát và về dữ liệu 7 có sẵn, và kết quả nghiên cứu chỉ được giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp lớn và thương mại công khai + Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006): Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide. Năm 2006, Christos Tzovas đã công bố nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT của các doanh nghiệp khi kế toán thuế và kế toán tài chính trùng nhau tại Hy Lạp.
Mẫu dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 doanh nghiệp lớn nhất ở Hy Lạp. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng bởi nhận thức các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu này, cụ thể, doanh nghiệp đặt mục tiêu giảm thuế phải nộp, tuy nhiên khi áp dụng có thể làm phát sinh các khoản chi phí ngoài thuế khác, các chi phí này làm doanh nghiệp đi lệch với mục tiêu giảm thuế ban đầu (ví dụ về các bên liên quan sẽ có đánh giá không tốt khi lợi nhuận của doanh nghiệp trên BCTC sụt giảm dù điều này làm giảm chi phí thuế phải nộp, điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp khi dẫn đến chi phí tiếp cận vốn vay gia tăng).Kết quả nghiên cứu này cũng có thể áp dụng cho những doanh nghiệp hoạt động trong các quốc gia có môi trường tương tự như Hy Lạp (doanh nghiệp tại Hy Lạp có đặc trưng là sở hữu tập trung), ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tiến hành phân tích tài chính quốc tế, đồng thời góp phần vào việc giải thích các quyết định kế toán của những doanh nghiệp ở Hy Lạp. Bên cạnh kết quả nghiên cứu, tắc giả cũng nêu lên những mặt hạn chế của nghiên cứu của mình do mẫu phản hồi của nghiên cứu tương đối ít nên không loại trừ khả năng có hiện tượng thiên lệch.
+ Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự (2007): Determinants of Accouning Choices in Egypt. The Journal of Applied Accounting Research 8 Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự tiến hành được tiến hành tại Ai Cập, tác giả muốn tìm kiếm nhân tố tác động đến sự lựa chọn kế toán. Nghiên cứu kế thừa các giả thuyết của nghiên cứu do Watts và Zimmerman (1990), bên cạnh ba giả thuyết đã được Watts và Zimmerman đề ra, nhóm tác giả tiến hành xem xét thêm một giả thuyết mới là giả thuyết thuế. Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 320 công ty tại Ai Cập về phương pháp lựa chọn khấu hao.
Kết quả nghiên cứu ủng hộ giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết thuế. Cụ thể, sự tồn tại của kế hoạch tiền thưởng khuyến khích nhà quản lý sử dụng các phương pháp kế toán như phương pháp kế toán khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho làm tăng lợi nhuận kế toán mà không làm tăng các khoản thanh toán (nghĩa vụ) thuế. Tuy nhiên bên cạnh kết quả đã làm được, nghiên cứu cũng có những hạn chế từ dữ liệu thu thập, đồng thời nghiên cứu cũng khẳng định có tồn tại những lý do khác cho sự lựa chọn CSKT mà tác giả không đề cập đến trong nghiên cứu này. Nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp + Nghiên cứu của Tatsuo Inoue và Wayne B.
Thomas (1996): The Choice of Accounting Policy in Japan Năm 1996, Tatsuo Inoue và Wayne B. Thomas đã tiến hành nghiên cứu về sự lựa chọn chính sách kế toán tại Nhật Bản. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn các chính sách kế toán nhà quản lý Nhật Bản. Nghiên cứu kế thừa các nhân tố dựa trên mô hình của Watts và Zimmerman, tuy nhiên do điều kiện kinh tế Nhật Bản khác biệt nên nhóm tác giả đã đề xuất một số nhân tố mới để khảo sát.
Dữ liệu nghiên cứu được từ 1.489 doanh nghiệp Nhật Bản Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, giả thuyết nợ / vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến việc lựa chọn CSKT, kể cả với tập đoàn kinh tế. Thuế có tác động đáng kể vào sự lựa chọn CSKT của nhà quản lý vì những mối quan hệ chặt chẽ giữa thuế của Nhật Bản và hệ thống báo cáo tài chính. Chi phí chính trị nước ngoài, khả năng tài chính trong hoạt động nội bộ cũng được xem là các nhân tố tác động đến 9 việc lựa chọn CSKT của nhà quản lý. Kết quả cũng cho thấy tại Nhật Bản thì giả thuyết tiền thưởng lại không được hỗ trợ.
Nghiên cứu cũng làm phong phú hơn về các nghiên cứu lựa chọn chính sách kế toán tại một quốc gia riêng biệt. + Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010): Explaining Accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods Năm 2010, Szilveszter và cộng sự đã tiến hành thực hiện một cuộc nghiên cứu điều tra các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT (cụ thể là phương pháp kế toán) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Rumani. Nghiên cứu này đã tập hợp khá đầy đủ các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được khám phá trước đó. Bên cạnh đó, nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã tìm một số mô hình mẫu từ trong các quyết định lựa chọn phương pháp kế toán và xác định các nhân tố chính tác động đến các quyết định đó.
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ bảng tổng hợp nhân tố đã nghiên cứu của Bosnyák (2003) tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hungary (láng giềng của Rumani) và có sự điều chỉnh. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát yêu cầu người trả lời chỉ ra mức độ mà mỗi nhân tố được liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu về phân tích nhân tố khám phá cho thấy sáu nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ở Rumani là nhân tố “thông tin”, “thuế”, “hình ảnh cho bên thứ ba”, “hình ảnh cho cổ đông”, “kinh tế”, “trung thực và hợp lý”.