Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về năng lực Khái niệm “Năng lực” được hiểu và phân tích theo nhiều ý nghĩa khác nhau, từng đối tượng khác nhau. Theo Dubois (1998), năng lực là những đặc điểm như kiến thức, kỹ năng, tư duy, tư tưởng,….
Chúng được sử dụng riêng biệt hoặc khi kết hợp với nhau đều có thể mang lại thành công trong công việc. Một nghiên cứu khác của Lucia & Lespinger (1999) cho rằng năng lực là một công cụ với mục đích xác định các kỹ năng, kiến thức, thuộc tính và những hành vi cần thiết để thực hiện công việc hiệu quả, dẫn tới mục tiêu cuối cùng đã đề ra [27]. Một số các nghiên cứu sau đó còn chỉ thêm một đặc điểm khá quan trọng của năng lực là sự phối hợp, tổng hợp nhiều nguồn lực. Cụ thể, Denyse Tremblay (2002) cho rằng “Năng lực là khả năng hành động, thành công dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống” [26].
Với các tài liệu trong nước, Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) định nghĩa “Năng lực là đặc điểm thể hiện mức độ thông thạo, thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn một hoặc một số hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, trí tuệ, tính cách của cá nhân; là kết quả phát triển của xã hội và của con người” [5]. Trong khi đó, Nguyễn Thu Loan (2018) đã định nghĩa một cách khái quát: “Năng lực là tổng hợp những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Năng lực được hiểu là kĩ năng biết làm thành thạo và có hiệu quả, mà không chỉ có biết và hiểu của một cá nhân” [9, tr.
Qua những quan điểm trong và ngoài nước nêu trên, năng lực được tác 9 giả giải thích là khả năng vận dụng, tổng hợp các tài nguyên – vô hình và hữu hình đã được liên kết một cách chủ đích, từ đó hoàn thành được kế hoạch, đạt được mục tiêu mong muốn. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh luôn được định nghĩa là một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường. Trong suốt quá trình phát triển của nhân loại đối với kinh tế, đa số đều công nhận rằng cạnh tranh là một trong những yếu tố ảnh hưởng mật thiết thúc đẩy sự phát triển của một đất nước. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khái niệm về cạnh tranh cùng đã được tìm tòi, quan tâm và khám phá bởi rất nhiều các trường phái kinh tế khác nhau.
Marx (1978), cạnh tranh được hiểu một cách cụ thể thông qua các cuộc tranh giành gay gắt của các nhà tư bản mà tại đó, họ có thể thu được những điều kiện thích hợp trong sản xuất và tiêu dùng, qua đó thu về khoản lợi nhuận siêu ngạch. Kinh tế học của P. Quan điểm của Porter (1985) cho rằng cạnh tranh bản chất là giành lấy thị phần, tìm kiếm một mức lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình đang có [30]. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành, từ đó dẫn đến việc giá cả có thể giảm đi.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, thương nhân, nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện như sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất [6]. Cạnh tranh buộc những người buôn bán phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả làm việc, chất lượng hàng hóa phù hợp với thị hiếu khách hàng, từ đó giảm giá thành, ổn định và nâng cao doanh lợi. Tại Việt Nam, quan điểm về canh tranh hầu hết được nhắc tới là vấn đề trong việc chiếm những điều kiện thuận lợi về giá cả hàng hóa, dịch vụ, từ đó 10 đem tới mức lợi nhuận cao cho các chủ thể tham gia. Tuy nhiên, Trần Thị Anh Thư (2012) cho rằng: “Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp” [21, tr. Quan điểm về cạnh tranh trong nghiên cứu Nguyễn Văn Sinh (2014) là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế, các công nghệ sản xuất nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bằng cách cung cấp các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý hơn so với các đối thủ của mình [13, tr. Theo đó, muốn thành công trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải tạo ra được sự khác biệt so với các đối thủ, nhờ đó thu hút được các khách hàng tin tưởng vào công ty thay vì đối thủ. Chính sự khác biệt đó sẽ giúp doanh nghiệp có được lợi thế trong quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, giúp họ có điều kiện để tối ưu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận.
Theo Đoàn Phạm Nhã Ca (2019), cạnh tranh là cả một hệ thống quá trình vận hành liên tục dựa trên cơ sở gắn với kết nội, cộng tác. Các doanh nghiệp đều phải nỗ lực đấu tranh với nhau nhau để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng, giá trị gia tăng thì luôn có lợi nhuận biên giảm dần theo quy luật, vì vậy nếu doanh nghiệp nào bằng lòng với vị thế hiện tại, họ sẽ nhanh chóng bị bỏ lại bởi sự tiến bộ của đối thủ và rơi vào tình trạng lạc hậu, từ đó có thể bị đào thải trên thương trường cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay [2, tr. Tổng hợp những quan điểm trên, cạnh tranh là một điều bắt buộc cần phải có, một điều kiện tất yếu đánh dấu sự phát triển và tăng trưởng của một quốc gia. Khi có cạnh tranh, con người có thể có động lực khai thác hiệu quả các nguồn lực, từ đó tạo ra những sản phẩm, công cụ nhằm thỏa mãn nhu cầu trên thị trường.
Những hành động này sẽ nâng tầm đời sống, cơ sở vật chất, 11 đồng thời giúp cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn. Lợi thế cạnh tranh Một trong học giả đầu tiên đề cập tới khái niệm lợi thế cạnh tranh là Michael E. Theo ông, lợi thế cạnh tranh thể hiện qua các giá trị mà một doanh nghiệp mang đến cho người mua, mà giá trị này lớn hơn giá trị mà doanh nghiệp đó bỏ ra [29]. Quan điểm của Porter đến nay vẫn được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu khác.
Cụ thể, Barney (1991) cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là những giá trị nổi bật mà họ có thể tạo ra cho khách hàng mà các đối thủ không thể cạnh tranh được, do đó thương hiệu của doanh nghiệp được nâng cao và trở thành đơn vị cung cấp mà khách hàng ưa chuộng [24]. Theo Kurt (2010), lợi thế cạnh tranh là những giá trị mà một doanh nghiệp có thể cung cấp nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm của mình thay vì lựa chọn những thương hiệu khác, đồng thời ngăn cản đối thủ sao chép trong hiện tại hoặc tương lai gần [25, tr. Một doanh nghiệp có sự khác biệt rõ ràng về mặt sản phẩm dịch vụ hoặc mức chi phí tạo ra thấp hơn giúp họ có nhiều ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh, đó chính là lợi thế cạnh tranh. Một trong những yếu tố thể hiện rõ nhất là tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với trung bình, từ đó dẫn tới thắng lợi trong cạnh tranh (Vũ Trọng Lâm, 2006) [11].
Mức tỷ suất lợi nhuận cũng được nhấn mạnh trong quan điểm của Lê Thế Giới và các cộng sự (2007). Cụ thể, nếu tỷ suất lợi nhuận của một công ty cao hơn so với tỷ suất trung bình ngành, công ty đó được xem như có lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, một công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững nếu như họ giữ được tỷ suất lợi nhuận cao trong một thời gian dài [4]. Trên quan điểm của các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới, có thể thấy khi sản phẩm dịch vụ mà một công ty tạo ra đem đến giá trị cho khách hàng, đồng thời giá trị đó lớn hơn chi phí mà họ bỏ ra, lợi thế cạnh tranh sẽ xuất hiện.
Vì vậy, những nhân tố có sức ảnh hưởng lớn nhất giúp doanh 12 nghiệp có lợi thế cạnh tranh là giá trị có thể tạo ra cho khách hàng và chi phí bỏ ra. Năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là một quy luật tất yếu, một yêu cầu bắt buộc của nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa. Sự phát triển của nền kinh tế đi cùng với đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Vì vậy, luôn có những doanh nghiệp thất bại và sụp đổ, buộc phải rời khỏi thị trường, thay thế bằng các doanh nghiệp vững mạnh hơn, thành công hơn.
Sự cạnh tranh ngày càng cao dẫn đến nền kinh tế quốc gia ngày càng phát triển, đời sống được cải thiện rõ rệt, kéo theo đó là nhu cầu ngày càng được nâng cao. Mọi doanh nghiệp khi tham gia thị trường đều mong muốn mình có thể tồn tại và phát triển mạnh mẽ, vì vậy nhiệm vụ tiên quyết của họ là phải đáp ứng được những nhu cầu xã hội. Để làm được điều đó, các phương án, sách lược hợp lý mà những công ty đạt được trong quá trình không ngừng tìm tòi thị trường, thấu hiểu mong muốn của khách hàng để đạt được sự thỏa mãn tốt nhất. Đó là những yếu tố thể hiện rõ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, Vũ Trọng Lâm (2006) và Trần Sửu (2005) cho rằng bản chất của năng lực cạnh tranh là duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh thông qua khả năng tạo lập, sử dụng và sáng tạo, tạo ra những lợi thế với chất lượng tốt hơn so với các đối thủ, từ đó chiếm được thị phần và thu được lợi nhuận [11], [14]. Gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để các doanh nghiệp sử dụng những phương án, kế hoạch kinh doanh của 13 mình (Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2008) [22].