Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về năng lực của doanh nghiệp Năng lực của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh doanh. Năng lực doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sử dụng các nguồn lực đã được kết hợp một cách có mục đích để đạt được một trạng thái mục tiêu mong muốn.
Cụ thể, các nguồn lực vô hình và hữu hình được kết hợp và triển khai thông qua các hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp thì được gọi là năng lực. Có 4 năng lực doanh nghiệp quan trọng nhất bao gồm: Năng lực định hướng: Năng lực định hướng là vạch rõ hướng đi đúng cho doanh nghiệp. Sai lầm trong định hướng là sai lầm lớn nhất trong kinh doanh. Bởi vì ngoài tiền bị mất đi còn có nhiều chi phí khác lớn hơn rất nhiều và khó cân đong đo đếm.
Chúng là chi phí cơ hội bị bỏ lỡ, thời gian bị mất mát, công sức bị bỏ phí, tinh thần bị xuống dốc, nhân viên bị mất động lực, đầu tư bị lãng phí. Định hướng là vạch ra tầm nhìn đó là đích đến tương lai của doanh nghiệp, hiểu rõ sứ mệnh lý do hiện hữu của doanh nghiệp, thiết lập mô hình khung sườn kinh doanh, xác định mục tiêu các chỉ số đo lường thành công, thiết kế chiến lược vẽ ra con đường phù hợp để đạt mục tiêu. Muốn định hướng tốt cần có tư duy chiến lược và khả năng nhìn xa, trông rộng. Định hướng của doanh nghiệp phải đem lại giá trị cho 4 nhóm đối tượng, bao gồm: khách hàng, người lao động, cổ đông, cộng đồng.
Năng lực tổ chức biến định hướng thành kế hoạch hành động cụ thể. Tổ chức còn có nghĩa là phân bổ đúng nguồn lực vào đúng chỗ, đúng thời điềm. Tổ chức là xây dựng hệ thống để xử lý sự phức tạp trong vận hành doanh nghiệp và nâng cao xác suất thành công. Muốn tổ chức tốt cần có tư duy logic 8 và phân tích tốt.
Đây là việc mà các phân bậc trong doanh nghiệp phải cùng quan tâm và cải thiện. Bao gồm: nhà đầu tư, thành viên hội đồng quản trị, quản lý và nhân viên. Năng lực thực thi: Không có hành động thì mọi ý tưởng đều trở nên vô nghĩa. Mọi ước mơ trở thành giấc mơ.
Thực thi cần kỷ luật, xác lập ưu tiên thu thập dữ liệu, thiết lập nhịp điệu hoạt động, để từ đó theo dõi tiến trình và điều chỉnh khi cần thiết. Đó là khả năng thực thi của từng cá nhân, đội nhóm, phòng ban và cả tổ chức. Để thực thi tốt cần cam kết, chuyên cần và kỷ luật. Năng lực kết nối: Năng lực doanh nghiệp này nhằm gắn kết tập thể thành một khối thống nhất để cùng nhau vượt qua các giai đoạn khó khăn trong kinh doanh.
Đó chính là văn hóa nơi mọi người thể hiện niềm tin bằng cách hành xử nhất quán. Là giá trị cốt lõi dẫn lối cho mọi quyết định quan trọng. Đó là phát triển đội ngũ lãnh đạo, xây dựng đội nhóm, thu hút và giữ chân nhân tài, tạo động lực thông qua khen thưởng và kỷ luật. Để kết nối tốt cần sự thấu hiểu và tôn trọng.
Không chỉ chủ doanh nghiệp, mỗi cá nhân trong tổ chức đều có thể xây dựng năng lực kết nối. Tuy nhiên, không phải ai cũng cần hoặc muốn kết nối ở nơi làm việc. Khả năng kết nối của mỗi cá nhân cũng khác nhau, và điều đó hoàn toàn hợp lý. Không nên ép buộc các thành viên phải kết nối với nhau, mà thay vào đó ta nên khuyến khích thông qua những hành động nhỏ để tiếp cận từng cá nhân và tạo cho họ cảm hứng.
Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, thể thao… và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về sự cạnh tranh. Từ rất lâu khái niệm cạnh tranh đã xuất hiện dưới hình thức ban đầu là đấu tranh sinh tồn trong tự nhiên. Mọi sinh vật từ khi sinh ra đều phải cạnh tranh với các sinh vật cùng loại hay đấu tranh với các sinh vật khác để tồn tại và phát triển trong thế giới của mình. Đó là cạnh tranh về thức ăn, lãnh thổ, về 9 các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của mình.
Cuộc sống con người chúng ta cũng bắt đầu và phát triển như vậy. Những cuộc đấu tranh này đôi khi không hề đơn giản, chúng có thể vô cùng khốc liệt dẫn đến một mất một còn. Sinh vật nào có đủ bản lĩnh sẽ sinh tồn và ngược lại. Cạnh tranh như một quy luật khách quan không thể tách khỏi hoạt động sống của con người từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ cho đến chủ nghĩa tư bản.
Cạnh tranh tuy được thấy từ mọi góc cạnh của cuộc sống con người nhưng ở đây chúng ta chỉ đề cập đến cạnh tranh trong kinh tế, giữa các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển trên thị trường nhiều biến động. Từ hoạt động cạnh tranh với tự nhiên để sinh tồn, con người cũng cạnh tranh với nhau để phát triển. Cạnh tranh còn có thể diễn ra trong một khoảng không gian không nhất định (hẹp hoặc rộng) và nó cũng diễn ra trong khoảng thời gian không có định (dài hoặc ngắn). Mục đích của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là: Thứ nhất: Hạ thấp giá của các yếu tố đầu vào của các chu trình kinh doanh và nâng cao mức giá đầu ra sao cho chi phí thấp nhất mà vẫn có thể đạt được mực lợi nhuận cao nhất để giành những lợi thế.
Thứ hai: Sản phẩm và dịch vụ mà mình cung cấp giành được thị phần cao nhất Thứ ba: Trên cơ sở và dịch vụ của mình giữ được thị phần, giữ được khách hàng. Theo một số tiêu thức người ta phân loại cạnh tranh: Cạnh tranh được chia làm 3 loại theo người tham gia thị trường: Cạnh tranh mua rẻ bán đắt, chủ yếu quan hệ cung cầu trên thị trường là cạnh tranh giữa người bán và người mua. Cạnh tranh giữa những người bán với nhau là cạnh tranh trên thị trường nhằm giành lấy điều kiện thuận lợi nhất trong tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và sản xuất. 10 Cạnh tranh giữa những người mua để mua được thứ sản phẩm, dịch vụ cần thiết.
Trong phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh được chia thành 2 loại: Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi. Kết quả của hoạt động cạnh tranh này là sự hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân. Trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại sản phẩm, dịch vụ nhằm mục đích tiêu thụ những dịch vụ, sản phẩm đó có lợi hơn để thu lợi nhuận cao hơn. Cách thức sử dụng trong cạnh tranh căn cứ vào đó thì cạnh tranh được chia thành 2 loại: Cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận, thường diễn ra sằng phẳng, công bằng và công khai: cạnh tranh lành mạnh Còn cạnh tranh không lành mạnh đó là cạnh tranh dựa vào những thiếu sót của luật pháp, trái với chuẩn mực, đạo đức xã hội (trốn thuế, buôn lậu…) 1.
Năng lực cạnh tranh Theo quan điểm của Ambastha & Momaya (2004) thì “NLCT là khái niệm phổ biến dùng để miêu tả sức mạnh của một tổ chức so với ĐTCT về kinh tế trong nền kinh tế toàn cầu hoá, trong đó kỹ năng, con người và sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, trên địa lý toàn biên giới”. Như vậy, có thể hiểu NLCT là khả năng vượt trội của một tổ chức so với ĐTCT khi giành chiến thắng trong cùng một thị trường và khi cùng tập trung vào một đối tượng. Khả năng cạnh tranh, tính cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh là các thuật ngữ được sử dụng khá là phổ biến hiện nay và được chấp nhận với hàm ý tương tự nhau. Trong tác phẩm của mình Michael Porter cũng thừa nhận không thể đưa ra một định nghĩa tuyệt đối về khái niệm năng lực cạnh tranh.
Các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất 11 thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình thì có thể cạnh tranh thành công. Các doanh nghiệp cần phải ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn mới duy trì được lợi thế cạnh tranh [4, tr. Với quan niệm của mình Michael Porter đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh còn bao hàm cả việc doanh nghiệp phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Doanh nghiệp phải liên tục duy trì mức lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường hoặc thậm chí chủ động tạo lập nên sự phát triển của thị trường.
Việc hạ thấp giá thành sản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh theo quan niệm mang tính dài hạn này của Michael Porter cũng như đa số các nhà nghiên cứu khác không bao hàm việc hạ thấp giá thành bằng những biện pháp có tính tiêu cực như cắt giảm chi phí bảo hộ lao động, cắt giảm chi phí phúc lợi, cắt giảm chi phí môi trường, cắt giảm lương nhân viên “Năng lực cạnh tranh ở đây cần phải được gắn liền với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả của các nguồn lực xã hội” [4, tr. Có thể phân biệt năng lực cạnh tranh theo bốn cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp độ ngành, năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm/dịch vụ. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đó sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong và tận dụng các yếu tố bên ngoài như thế nào để: - Tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu cần thiết và thu hút khách hàng mục tiêu; - Giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều doanh thu và lợi nhuận hơn; - Nâng cao vị thế và chỗ đứng của bạn trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh.