đặt vấn đề, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của việc nghiên cứu và bố cục đề tài nghiên cứu, từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Ở chương này, tác giả giới thiệu khái niệm về nợ, lợi nhuận, khả năng sinh lời, công thức đo lường nợ, chỉ số nợ và khả năng sinh lời, đề cập lý thuyết về nợ và các nhân tố ngoài nợ tác động đến khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX. Đồng thời, chương này cũng tổng hợp các nghiên cứu trước đây về nợ tác động đến khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng được niêm yết trên sàn HOSE và HNX. Khái niệm lợi nhuận Theo Ngô Kim Phượng (2018), “Lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
Do đó, lợi nhuận phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của doanh nghiệp. Một trong những mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận”. Theo Trần Ngọc Thơ (2007), “Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, bao gồm cả chi phí cơ hội, để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang lại. Lợi nhuận của doanh nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của chính doanh nghiệp”.
Tóm lại, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể được hiểu là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu và tổng chi phí hợp lệ trong năm tài chính. Lợi nhuận doanh nghiệp được thực hiện trong năm là kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính và các hoạt động khác. Thời điểm xác định lợi nhuận hàng năm được thực hiện khi quyết toán niên độ, lập báo cáo tài chính năm. Lợi nhuận của doanh nghiệp được chia thành hai loại quan trọng là: lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định như sau: Lợi nhuận trước thuế: số lợi nhuận thu được trong năm của doanh nghiệp từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm trước khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Lợi nhuận trước thuế là tổng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp. Theo Ngô Kim Phượng (2018), lợi nhuận trước thuế được tính như sau: Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập - Tổng chi phí Cũng theo Ngô Kim Phượng (2018), lợi nhuận sau thuế là phần chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp 6 2. Đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp 2.
Khái niệm khả năng sinh lời Khả năng sinh lời Nguyễn Văn Ngọc (2012) giải thích như sau: " Khả năng sinh lời là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp. Thông thường khả năng sinh lời được tính bằng cách lấy lợi nhuận chia cho tổng tài sản sử dụng, khối lượng tư bản dài hạn hoặc số người lao động. Nó cho chúng ta biết hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định". Đối với một doanh nghiệp, khả năng sinh lời chính là kết quả của việc sử dụng các tài sản về cơ sở vật chất và tài sản nguồn vốn.
Ngoài ra, khả năng sinh lời của một doanh nghiệp cần đáp ứng được: Đảm bảo việc duy trì vốn cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp vào việc tăng vốn đầu tư, trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay. Lợi nhuận thu được từ các hoạt động sinh lời trong năm có thể được trích chia cho cổ đông hoặc duy trì dưới dạng vốn dự trữ. Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) Theo Ngô Kim Phượng (2018), ROA đo lường hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. ROA là suất sinh lời trên tài sản của doanh nghiệp sau tác động của thuế nhưng chưa có tác động của nợ, do đó ROA chịu ảnh hưởng bởi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tỷ suất này được xác định bởi công thức sau: ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn.
Tuy nhiên đối với ngành xây dựng thì ROA luôn ở mức thấp sở dĩ như vậy là do khối lượng tài sản của ngành xây dựng có giá trị rất lớn. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, các nhà quản trị cũng cần phải cân nhắc tới chỉ tiêu ROA. Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) Ngô Kim Phượng (2018), ROE là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào doanh nghiệp đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. ROE có liên quan đến chi phí lãi vay, liên quan đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp.
vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn 7 bẩy tài chính. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Tỷ suất này được xác định bởi công thức sau: ROE = Lợi nhuận ròng / Vốn chủ sở hữu 2. Lợi nhuận sau thuế trên tổng vốn đầu tư (ROI) Ngô Kim Phượng (2018), ROI đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận trên một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp, không phân biệt vốn đầu tư được hình thành từ những nguồn nào, một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra cho nền kinh tế bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Do ROI được xác định dựa trên lợi nhuận trước thuế và lãi vay nên ROI không phụ thuộc vào mức độ sử dụng nợ và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì vậy, ROI là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn khách quan nhất và có thể được dùng để so sánh khả năng sinh lời của vốn đầu tư ở các doanh nghiệp khác nhau. Bên cạnh đó, ROI vừa là cơ sở để đánh giá khả năng trả lãi của doanh nghiệp, vừa là cơ sở để đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn. Tỷ suất này được xác định bởi công thức sau: ROI = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Tổng vốn bình quân 2.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp 2. Nợ ngắn hạn Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng chỉ tiêu hệ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản để phân tích ảnh hưởng của nợ ngắn hạn đến tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp. Hệ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản cho biết mức độ sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, tức là nguồn vốn ngắn hạn chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn vốn (hay tài sản) của doanh nghiệp (tài sản bằng nguồn vốn). Theo Trần Ngọc Thơ (2007), hệ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (SDA) được tính như sau: SDA = Nợ Ngắn hạn / Tổng tài sản Theo nghiên cứu của Abor (2005), Gill (2011), Gleason (2000), Bùi Đan Thanh (2016) nhận thấy rằng tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều đáng kể đến lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Ngược lại, các nghiên cứu của Tian và Zeitun (2007), Ahmad (2012), Khan (2012), Nguyễn Thị Diệu Chi (2018) cho rằng tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. Cấu trúc vốn doanh nghiệp là sự kết hợp của nhiều dạng vốn bên ngoài khác nhau, được sử dụng để tài trợ cho một doanh nghiệp. Cấu trúc vốn trình bày chi tiết thành phần vốn nợ và vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp. Tuy nhiên, Cấu trúc vốn nợ đứng trên góc độ nguồn vốn 8 huy động là mối tương quan giữa vốn nợ/tổng tài sản gồm các chỉ tiêu như: Tổng nợ/tổng tài sản, nợ ngắn hạn/tổng tài sản, nợ dài hạn/tổng tài sản.
Theo nghiên cứu của Bevan và Danbolt (2002) cho rằng mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tài sản cố định phụ thuộc vào loại nợ. Kết quả này cho thấy, tỷ lệ nợ dài hạn có tương quan dương với tỷ trọng tài sản cố định, trong khi nợ ngắn hạn lại có xu hướng ít hơn nếu doanh nghiệp có tài sản cố định nhiều hơn. Theo Bùi Đan Thanh (2016), nợ ngắn hạn có ưu điểm là dễ huy động hơn, rủi ro lãi suất và tỷ giá ít hơn hoặc dễ dự đoán hơn; tuy nhiên lại gây áp lực lên các hệ số về khả năng thanh toán của doanh nghiệp và trong tổng nợ của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa thì nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn (trung bình chiếm khoảng từ 90% đến 95%). Như vậy, nếu tổng nợ tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp thì nợ ngắn đóng vai trò chủ yếu.
Nợ dài hạn Để phân tích ảnh hưởng của nợ dài hạn đến tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây thường sử dụng chỉ tiêu hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản. Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản cho biết mức độ sử dụng nợ dài hạn để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, tức là nợ chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn vốn (hay tài sản) của doanh nghiệp (tài sản bằng nguồn vốn). Nghiên cứu của Gleason (2000), Gill (2011), Trần Hùng Sơn (2008) cho rằng trong các yếu tố tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp thì tỷ số giữa nợ dài hạn trên tổng tài sản có quan hệ đồng biến với lợi nhuận.