CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN NHÂN LUC CUA. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng có vai trò quyết định sự thành. công hoặc thất bại của phát triển kinh tế xã hội của mỗi đất nước, vì vậy, phát triển nhân lực có chất lượng tốt là yếu tố cần thiết hàng đầu của rất nhiều các quốc gia, ngày nay nhân lực được tiếp cận cũng như được hiểu qua nhiều hướng nhìn khác nhau.
Theo tac giả Trần Kim Dung (2015), nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có và những năng lực tiềm tàng của con người. Ở góc độ này nói đến nhân lực là người ta nói đến yếu tố con người gắn với việc sản xuất ra một hay nhiều sản phẩm nào đó cho xã hội và bản thân để tồn tại và phát triển. Nói một cách tổng quát thì nhân lực chính là một nguồn lực kinh tế xã hội, coi con người như là một thực thể linh hoạt có thẻ tích lũy vốn khai thác các nguồn lực tự nhiên, xây dựng. kinh tế xã hội, các tổ chức chính trị và thúc đây sự phát triển của một quốc gia.
Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), nhân lực được tiếp cận ở hai phạm vỉ: nhân lực của tổ chức và nhân lực là cá nhân: “Trong phạm vi của tổ chức, nhân lực là một bộ phận của nguồn nhân lực xã hội. Nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, nhân viên trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, có sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức Theo khía cạnh cá nhân con người, nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thẻ lực và trí lực. Thẻ lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tỉnh trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực của con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính.Trí lực chỉ sức suy.
nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người. Như vậy, có thể hiểu nhân lực là toàn bộ những người làm việc trong một tổ 10 chức hay doanh nghiệp, được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Liên quan đến khái niệm nhân lực còn có khái niệm nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực nói chung không chỉ bao gồm những người trong độ tuôi lao động mà còn. bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động, là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Nguồn lực con người được thẻ hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất), tức là không chỉ bao hàm số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực hiện tại, mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Trin Xuan Cầu và Mai Quốc Chánh (201 1), Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn kiến thức, kỹ năng và sức người cần đầu tư vào công việc dé đạt được thành công. Sự phân loại nguồn nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) đang rất phổ biến ở nước ta hiện nay, nhưng khi chuyển sang. nền kinh tế trí thức, cách phân loại lao động theo hướng tiếp cận công việc nghề nghiệp của người lao động sẽ phủ hợp hơn.
Lực lượng lao động gồm lao động thông. tin va lao động phi thông tin. Lao động thông tin lai được thành 2 loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu. Lao động phi thông tin được thành lao động sản xuất hàng hoá và lao động cung cấp dịch vụ.
Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này. vậy, lực lượng lao động phân thành 5 loại: lao động trỉ thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hoá. Mỗi loại lao. động này có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm.
Hàm lượng tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp. của lực lượng lao động trí thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu ở nước ta. Tỷ lệ lao động phi thông tin còn rất cao trong cơ cấu lực lượng lao động, do đó hàng. a hoá có tỷ lệ trí tuệ thấp.
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng các khái niệm về nhân lực đều đề cập. đến những vấn để sau: Thứ nhát, nhân lực là một nguồn lực đặc biệt: Trong ba yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất: nhân lực (con người), tai lực (vốn) và vật lực (cơ sở vật chất kỹ thuật) thì nhân lực là yếu tố đặc biệt nhát, sự đặc biệt này nằm trong chính nhân. tố con người. Bởi khác với những vật vô trỉ vô giác, con người có ngôn ngữ, tư duy, tỉnh cảm,.hình thành nên các mỗi quan hệ xã hội.
Họ có tư duy trong quá trình thực hiện các công việc và có thái độ, phản ứng với những sự vật, hiện tượng xung quanh. Thứ hai, nhân lực là một nguồn lực đa dạng va phức tạp: Mỗi con người dù ở vị trí nào đều là những cá nhân hoàn toàn khác nhau. Họ có những tính cách đa dạng với những biểu hiện bên ngoài khác biệt tủy từng hoàn cảnh cụ thể. Có người cởi mở, có người kín đáo, có người hay suy nghĩ, có người thích hành động.
Thêm vào đó mỗi người lại sống trong những hoàn cảnh riêng biệt hình thành năng lực, quan điềm, nhu cau, sở thích.đa dạng khác nhau. Ở mỗi con người đều có thẻ tồn tại những ưu điểm và nhược điểm riêng đỏi hỏi các cách thức ứng xử, phương pháp quản trị phù hợp khác nhau. Trải qua thời gian, năng lực, quan điểm, nhu cầu, sở thích.của nhân lực lại không ngừng thay đổi. Sự thay đổi này cần được tổ chức hay doanh nghiệp quan tâm để có thể sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực Thứ ba, nhân lực là một nguồn lực có tính chủ động và sáng tạo: Trong khi von, cơ sở vật chất kỹ thuật.
mang tính thụ động thì nhân lực lại là nguồn lực mang tính chủ động và sáng tạo. Nhân lực là chủ thể của mọi sáng tạo. Bằng hoạt động thực tiễn trong sản xuất kinh doanh, con người chủ động sáng tạo ra những giá trị vật chất và tỉnh thần. Con người tạo ra công cụ lao động và không ngừng cải tiến, phát minh ra các công cụ lao động, phương thức sản xuất, kinh doanh mới.
Con người chủ động khám phá ra các tài nguyên mới chưa được khai thác, sử dụng và phát hiện ra những. tính mới của những dạng tài nguyên đang sử dụng hoặc sáng tạo ra các tài nguyên không có sẵn trong tự nhiên nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh. Thứ tư, nhân lực là một nguồn lực khó bắt chước và sao chép: Hiện nay, các yếu tố về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật các tổ chitc/doanh nghiệp có thể vay, mua, học 12 hỏi, sao chép để đạt được một mức độ tương đối như nhau. Nhưng nhân lực lại là yếu tố khó bắt chước và sao chép được từ bắt kỳ tổ chức/doanh nghiệp khác.
Bởi vay tài nguyên nhân lực cũng chính là nhân tố quan trọng để làm tăng giá trị của tổ chức/doanh nghiệp. Năng lực cót lõi của đội ngũ nhân lực cũng chính là ưu thế hình. thành nên năng lực cạnh tranh cốt lõi của tổ chức/doanh nghiệp. Có thể nói, nếu các tô chức/doanh nghiệp chú ý đầu tư vào việc xây dựng một đội ngũ nhân lực vững mạnh và giữ vững thương hiệu nhân lực của mình thì sé tao ra được lợi thế cạnh tranh bên vững, lâu dài và hiệu quả.
Thứ năm, nhân lực là một nguồn lực có tiềm năng vô hạn: Nguồn lực của con người bao gồm có thể lực và trí lực. Thể lực tưởng như có hạn nhưng trong những trường hợp nhất định (thông qua rèn luyện, do yếu tố khác tác động.) lại có thé vượt qua những giới han thông thường mà con người không hẻ nghĩ tới. Còn trí lực là yếu tố phản ánh sức sản xuất và năng lực sáng tạo của con người. Trí lực là “tài nguyên” quý giá và vô tận của con người.
Sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ khong bao giờ dừng lại và không có giới hạn. Bởi vậy nhân lực được coi là tiềm lực có tiềm. năng vô tận. “Phân loại nhân lực: Trong quá trình sử dụng nhân lực, các tổ chức/doanh nghiệp thường phân loại nhân lực theo các tiêu chí khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý.
Tùy theo tiêu chi phân loại mà nhân lực có thể bao gồm các loại sau: (1). Theo trình độ đào tạo: Theo trình đô, nhân lực được phân thành 5 loại bao gồm: Nhân lực có trình độ sau đại học, nhân lực có trình độ đại học, nhân lực có trình độ cao đẳng, nhân lực có trình độ trung cắp, nhân lực có trình độ sơ cắp (2). Theo tình trạng đào tạo: Theo tỉnh trạng đào tạo, nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp bao gồm 2 loại là nhân lực đã qua đảo tạo và nhân lực chưa qua đào tạo. Trong đó nhân lực đã qua đào tạo là nhân lực đã từng được đào tạo về một ngành nghề chuyên môn nào đó, còn nhân lực chưa qua đảo tạo là nhân lực chưa từng được đào tạo về bất kỳ ngành nghề chuyên môn nảo.
Theo kinh nghiệm: Theo kinh nghiệm nhân lực được phân ra làm hai loại: Nhân lực đã có kinh nghiệm và nhân lực chưa có kinh nghiệm. Nhân lực đã có kinh 13 nghiệm là những nhân lực có các kiến thức và kỹ năng thực tế liên quan đến công, việc do đã từng làm việc ở một hoặc một vài vị trí khác nhau, còn nhân lực chưa có.