phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn bao gồm 4 chƣơng : Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động Chƣơng 2 : Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3 : Tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng công tác tạo động lực làm việc tại Techcombank Đà Nẵng Chƣơng 4 : Giải pháp tạo động lực làm việc tại Techcombank Đà Nẵng 3 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Những khái niệm cơ bản về tạo động lực làm việc Bàn về tạo động lực làm việc có những thuật ngữ xuất hiện thƣờng xuyên nhƣ sau : 1. Nhu cầu Nhu cầu là những đòi hỏi của con ngƣời muốn có điều kiện nhất định để sống và phát triển, hay nhu cầu là tính chất của cơ thể sống biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trƣờng sống.
Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời cảm thấy thiếu thốn không thoải mái về một cái gì đó và mong muốn đƣợc đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con ngƣời, cộng đồng và tập thể xã hội. Hình thức biểu hiện nhất định của nhu cầu đƣợc cụ thể hóa thành đối tƣợng nhất định. Đối tƣợng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hƣớng đến làm thỏa mãn nhu cầu đó.
Một đối tƣợng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể đƣợc thỏa mãn bởi một số đối tƣợng với mức độ thỏa mãn khác nhau. [23] Việc không ngừng thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời là một trong những nhân tố quan trọng để làm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất. Hiểu đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động là nhân tố quan trọng giúp cho doanh nghiệp có chính sách gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tƣ của ngƣời lao động. Một khi nhu cầu của ngƣời lao động đƣợc thoả mãn thì mức độ hài lòng của họ về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên, và nhờ vậy họ sẽ gắn kết lâu dài hơn với doanh nghiệp.
Nhu cầu của con ngƣời theo nhà nghiên cứu về tâm lý Abraham Maslow có thể diễn tả dƣới dạng tầm quan trọng tƣơng đối của các loại nhu cầu khác nhau, từ những nhu cầu sơ đẳng, bậc thấp đến những nhu cầu bậc cao đối với mỗi cá nhân 4 z trong hoạt động đời thƣờng cũng nhƣ trong công việc. Có nhiều cách phân loại về nhu cầu. Căn cứ vào tính chất ta có nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội; Căn cứ theo đối tƣợng thỏa mãn nhu cầu ta có nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; Căn cứ vào mức độ, khả năng thỏa mãn thì nhu cầu bao gồm : nhu cầu bậc thấp (gọi là nhu cầu sinh lý cơ thể), nhu cầu bậc trung là nhu cầu vận động và nhu cầu bậc cao nhất (gọi là nhu cầu sáng tạo). Nhu cầu vận động và nhu cầu sáng tạo là hai hệ thống nhu cầu khó thỏa mãn hơn, song nếu biết định hƣớng thì có thể tạo ra động cơ mạnh mẽ thúc đẩy ngƣời tham gia lao động và sáng tạo ra ngày càng nhiều giá trị cho tổ chức.
Nhìn chung, trong ba cách phân loại trên thì mỗi phƣơng pháp phân loại có ƣu và khuyết điểm riêng liên quan đến nhu cầu của ngƣời lao động. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tƣơng đối, trong thực tế chúng lồng ghép, đan xen vào nhau, khó phân tách đƣợc rõ ràng. Cuộc sống càng phát triển, nhu cầu của con ngƣời càng cao. Khi các nhu cầu bậc thấp đã đƣợc đáp ứng một cách tƣơng đối đầy đủ, ngƣời lao động sẽ hƣớng đến những nhu cầu bậc cao hơn.
Thông thƣờng, ngƣời lao động với khả năng làm việc tốt, trình độ cao thƣờng đƣa ra những điều kiện làm việc cao hơn so với lao động cơ bắp thuần túy. Đặc biệt, các nhân tài sẽ hƣớng đến việc thỏa mãn các nhu cầu bậc cao. Đối với họ, nơi làm việc không chỉ đơn thuần là nơi để kiếm sống, để có các hoạt động xã hội, mà điều quan trọng hơn cả là nơi để họ phát huy năng lực vốn có để đƣợc thể hiện mình, và cao hơn nữa, là nơi mà họ có thể phát huy hết những khả năng tiềm tàng, tối đa hóa sự sáng tạo để vƣợt lên chính khả năng sẵn có của bản thân. Lợi ích Lợi ích là mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện cụ thể.
Lợi ích lao động đƣợc biểu hiện là lợi ích kinh tế trong mối quan hệ giữa những ngƣời lao động với nhau, giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. [24] Tƣơng ứng với nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần có lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Giữa hai lợi ích này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự thoả mãn lợi ích vật chất dễ hơn sự thoả mãn lợi ích tinh thần.
Thông thƣờng, sự thoả mãn về lợi ích vật chất sẽ là tiền đề làm nảy sinh lợi ích về tinh thần. 5 z Tƣơng ứng với nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội có lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Lợi ích cá nhân là động cơ trực tiếp mạnh mẽ nhất và thông qua lợi ích cá nhân con ngƣời đạt đƣợc lợi ích xã hội(tập thể). Lợi ích cá nhân gắn liền với sự thoả mãn nhu cầu cá nhân của bản thân ngƣời lao động và gia đình họ, lợi ích xã hội gắn liền với nhu cầu xã hội.
Lợi ích cá nhân có tác động trực tiếp và tạo ra sự quan tâm nhiều hơn đối với ngƣời lao động, vì lợi ích cá nhân là biểu hiện cụ thể của sự đáp ứng nhu cầu cá nhân, là yếu tố tạo động lực làm việc. Mức độ thoả mãn lợi ích càng lớn sẽ tạo động lực làm việc càng nhiều. Động cơ Động cơ là mục tiêu chủ quan của con ngƣời nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra. Động cơ lao động biểu thị thái độ chủ quan của ngƣời lao động đối với hành động của mình, nó phản ánh mục tiêu đặt ra một cách có ý thức, nó xác định và giải thích cho hành vi.
Động cơ ám chỉ những nỗ lực [3] cả bên trong lẫn bên ngoài của một con ngƣời, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định. Để thỏa mãn đƣợc nhu cầu, con ngƣời cần tham gia vào quá trình lao động sản xuất. Chính vì vậy, nhu cầu của con ngƣời tạo ra động cơ thôi thúc họ làm việc và thỏa mãn nhu cầu của mình đồng thời tạo ra giá trị cho tổ chức. Trong quá trình quản trị, ngƣời đứng đầu tổ chức cần phải nắm bắt đƣợc động cơ làm việc của ngƣời lao động để nhận ra và tìm biện pháp kích thích cho ngƣời lao động luôn có đƣợc động cơ làm việc tốt, phát huy hết khả năng để tăng năng suất lao động nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức, đồng thời, giúp từng cá nhân đạt đƣợc mục tiêu riêng của mình.
Những cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy áp dụng biện pháp tạo động lực làm việc của ngƣời lao động hiệu quả sẽ luôn đi đôi với kết quả cao trong thực hiện công việc và mang lại nhiều lợi nhuận cho tổ chức. Công việc của các nhà quản trị là tìm ra phƣơng án tối ƣu trong nghệ thuật kết hợp giữa việc tạo động lực làm việc và các phần thƣởng nhằm thỏa mãn nhu cầu của ngƣời lao động để hƣớng đến mục tiêu của tổ chức đƣợc hoàn thành với hiệu quả cao nhất. Vậy động cơ là gì? Theo J.Piaget: Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể 6 z hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hƣớng cho hoạt động đó. Động cơ đƣợc hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt đƣợc kết quả để thoả mãn đƣợc các nhu cầu cá nhân.
Động cơ là kết quả của sự tƣơng tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc đẩy của động cơ cho các cá nhân sẽ khác nhau cũng nhƣ trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau.
[28] Có nhiều cách phân loại động cơ. Tuỳ thuộc vào việc xác định mục đích hành động, động cơ lao động có hai dạng: động cơ cảm tính và động cơ lý tính. Động cơ cảm tính gắn liền với trạng thái hứng thú lao động, còn động cơ lý tính là biểu hiện của sự nhận thức rõ ràng mục tiêu công việc cụ thể, nhất định. Trong thực tế, hai dạng động cơ này gắn liền với nhau và phản ánh qua thái độ của con ngƣời đối với hoạt động của mình.
Tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là hành động có ý thức hay vô thức khơi dậy và hƣớng hành động vào việc đạt đƣợc một mục tiêu mong đợi [29], là tác động vào sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hƣớng bản thân đạt đƣợc mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Gần đây, khái niệm này đã đƣợc các nhà khoa học xã hội sử dụng và mở rộng. Theo họ, tạo động lực làm việc là một yếu tố hoặc quá trình thúc đẩy một cá nhân hoặc một tập hợp cá nhân hành động. Vậy tạo động lực làm việc là gì? Nhà nghiên cứu Bolton cho rằng tạo động lực làm việc là một khái niệm để mô tả các yếu tố tác động làm các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hƣớng đạt đƣợc mục tiêu.
Tạo động lực làm việc là tác động thúc đẩy con ngƣời hoạt động một cách tích cực, có năng suất, trách nhiệm và hiệu quả cao nhất với tiềm năng của họ. Chính những lợi ích to lớn thông qua việc tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động gián tiếp mang lại hiệu quả cao cho hoạt động của tổ chức, mà các nhà 7 z quản trị hiện đại luôn coi đây là chính sách quan trọng và cần thiết, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp, của tổ chức.