Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về năng lực cạnh tranh ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Một trong những khái niệm đầy đủ và cụ thể về ngân hàng được được trình bày trong luật tín dụng (2010): Ngân hàng thương mại là một loại tổ chức tài chính cụ thể được phép tham gia vào nhiều hoạt động ngân hàng và kinh doanh theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, tất cả đều có mục tiêu chính là tạo ra lợi nhuận [21].
Ngoài ra, điều 5, nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 07 năm 2009 có nêu: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán [2]. Từ những định nghĩa trên về ngân hàng, có thể rút ra được: Ngân hàng thương mại là một loại tổ chức tài chính cụ thể tham gia giao dịch trực tiếp với nhiều thực thể khác nhau như doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân. Các ngân hàng này tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động gửi tiền và tiết kiệm, sử dụng hiệu quả nguồn vốn tích lũy để cho vay, chiết khấu và cung cấp các cơ chế thanh toán.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn mở rộng dịch vụ của mình để phục vụ nhu cầu ngân hàng đa dạng của các đối tượng nói trên. Chức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng sau [5]: - Trung gian tín dụng: Chức năng này biểu hiện rõ ràng nhất bản chất của một ngân hàng thương mại, đóng vai trò là nền tảng để thực hiện nhiều 15 chức năng khác. Trong việc thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa cá nhân có vốn thặng dư và cá nhân cần vốn. Đặc điểm khác biệt này cho phép các ngân hàng thương mại đảm nhận vai trò kép vừa là người đi vay vừa là người cho vay, từ đó tạo ra lợi nhuận thông qua sự chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay.
- Trung gian thanh toán: Các ngân hàng thương mại có quyền rút tiền từ tài khoản tiền gửi để tạo điều kiện thanh toán cho các hàng hóa và dịch vụ khác nhau. Ngoài ra, họ chịu trách nhiệm ghi lại doanh thu bán hàng và các hình thức thu nhập khác, sau đó được ghi có vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tương ứng theo yêu cầu của họ. Với vai trò trung gian cho các cá nhân và doanh nghiệp, ngân hàng thương mại không chỉ bảo vệ tiền của khách hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thay mặt họ phát hành tiền. Về bản chất, họ hoạt động như người giám sát tài chính hoặc thủ quỹ, đảm bảo luồng giao dịch tiền tệ diễn ra suôn sẻ cho khách hàng của họ.
- Chức năng tạo tiền: Quá trình tạo tiền ở các ngân hàng thương mại còn dựa vào hai chức năng bổ sung: chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Bằng cách đóng vai trò trung gian, các ngân hàng sử dụng vốn họ tích lũy được để cho vay. Những khoản vay này sau đó được khách hàng sử dụng để mua hàng và thanh toán cho các dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là mọi khoản tiền còn lại trong tài khoản tiền mặt của khách hàng vẫn được coi là một phần của quỹ giao dịch, có thể được sử dụng để mua hàng và thanh toán trong tương lai.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ➢ Khái niệm năng lực cạnh tranh Trước tiên, để tìm hiểu về khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, ta tìm hiểu khái niệm về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp theo một số quan điểm sau : 16 Theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế i(OECD): Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ingành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo đó, năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp iđộ: năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ba cấp độ này có mối liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau [4].
+ Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác. Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững [4]. + Khả năng cạnh tranh của sản phẩm: Được thể hiện thông qua chỉ tiêu thị phần sản phẩm. Khả năng cạnh tranh của một sản phẩm được quyết định bởi lợi thế cạnh tranh của nó: chất lượng, tính đặc biệt của sản phẩm, dịch vụ và các yếu tố công nghệ ẩn chứa trong sản phẩm.
+ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đề cập đến khả năng vượt trội và giành được lợi thế với doanh nghiệp khác bằng cách đáp ứng hiệu quả nhu cầu của khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc tận dụng các điểm mạnh và lợi thế bên trong và bên ngoài. Điều này đòi hỏi phải tạo nên sự khác biệt và phong phú sản phẩm cung cấp cho khách hàng với mục tiêu cuối cùng không chỉ là tồn tại và phát triển mà còn vượt qua các đối thủ trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được quyết định bởi thế mạnh thực tế của doanh nghiệp, bao gồm nhiều yếu tố bên trong cũng như những yếu tố bên ngoài [4]. Với nhiều cấp độ nghiên cứu về năng lực cạnh tranh như trên thì trong khuôn khổ luận văn này, sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, hay nói khác là nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp.
Một số quan điểm liên quan đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp như sau: 17 - Theo Michael Porter (1985): Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh đề cập đến năng lực của doanh nghiệp trong việc phát triển các sản phẩm kết hợp các quy trình công nghệ đặc biệt tạo ra giá trị gia tăng đáng kể, phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Hơn nữa, nó đòi hỏi khả năng đạt được chi phí thấp và năng suất cao, cuối cùng dẫn đến việc tăng lợi nhuận nhanh chóng. - Theo quan điểm tổng hợp của Prahalad and Gary Hamel (1990): Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước [40]. - Theo Nguyễn Vĩnh Thanh (2005): Để một doanh nghiệp có thể cạnh tranh được, trước hết doanh nghiệp phải có được sức mạnh từ các yếu tố bên trong.
Những yếu tố này bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau của doanh nghiệp, chẳng hạn như công nghệ, tài chính, nhân sự và tổ chức quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc đánh giá riêng từng tiêu chí này là chưa đủ. Thay vào đó, chúng còn phải được so sánh, đánh giá trong mối tương quan với các yếu tố khác hiện diện giữa các đối thủ trong cùng lĩnh vực và thị trường. Bằng cách thực hiện những so sánh này, doanh nghiệp có thể xác định và phát huy lợi thế cạnh tranh của riêng mình.
Những lợi thế này giúp doanh nghiệp có thể đáp ứng hiệu quả nhu cầu của khách hàng mục tiêu và lôi kéo khách hàng ra khỏi đối tác cạnh tranh [28]. Từ các quan điểm trên, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh là khả năng doanh nghiệp có thể khai thác, huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực,.để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh; đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, xác lập vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường; từ đó, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững. 18 ➢ Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Vì thực chất thì NHTM cũng là imột doanh nghiệp nên NHTM cũng tồn tại vì imục đích cuối cùng là lợi nhuận. Vì thế, NHTM luôn phải tìm đủ mọi cách để cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chi phí cạnh tranh nhất, ibên cạnh sự đảm bảo tính chính xác, độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần để đạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng.
Do đó, theo khái niệm cạnh tranh chung thì cạnh tranh của ngân hàng thương mại cũng có thể hiểu là sự tranh đua, giành giật khách hàng dựa trên tất cả những khả năng mà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp sản phẩm có chất lượng hàng đầu, sự độc đáo về tính năng, từ đó tạo nên sự khác biệt của sản phẩm doanh nghiệp. Một số quan niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại điển hình như sau: Theo tác giả Nguyễn Thị Quy (2005), “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng được quyết định bởi khả năng thiết lập, duy trì và phát huy các lợi thế giúp ngân hàng duy trì và mở rộng thị phần, đạt được lợi nhuận vượt mức trung bình ngành và không ngừng tăng trưởng. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh, đủ kiên cường để trụ vững và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”.