Chương 1:Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Bảo Việt Chương 3: Giải pháp tăng cƣờng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Bảo Việt 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng trong hoạt động Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động truyền thống và mang lại doanh thu không nhỏ cho hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại.
Thuật ngữ “Tín dụng – Credit” xuất phát từ tiếng La tinh “Creditum” tạm dịch là sự tin tƣởng, tín nhiệm. Trong thực tiễn, thuật ngữ tín dụng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà nó có một nội dung riêng. Do đó, tùy theo góc độ nghiên cứu mà ta xác định nội dung của thuật ngữ “Tín dụng” [5]. Theo khoản 14 điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Ngoài ra,Tín dụng cũng đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện khoản gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
[5] Nhƣ đã đề cập ở mục phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo khoản 16 điều 4, luật các 8 tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Nhƣ vậy, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn này ta có thể hiểu tín dụng là hoạt động cho vay bằng tiền, để sử dụng vào mục đích xác định, trong một khoảng thời gian nhất định và có hoàn trả cả gốc và lãi, trong đó, chủ thể cho vay là các tổ chức tín dụng, ngƣời đi vay là các chủ thể có năng lực pháp lý trong nền kinh tế. Đặc trưng của tín dụng Là một hoạt động mang tính chất đặc thù của ngành tài chính ngân hàng, tín dụng với bản chất là giao dịch tài sản có sự hoàn trả, tín dụng ngân hàng có những đặc trƣng riêng của nó [5].
Để thuận tiện cho nghiên cứu, trong luận văn này sẽ nêu một vài đặc trƣng cơ bản của tín dụng nhƣ sau: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng có sự chuyển giao tài sản từ bên cho vay (ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác) cho bên đi vay dựa trên sự tin tƣởng với ngƣời đi vay. Do vậy, yếu tố cơ bản nhất trong hoạt động tín dụng là mức độ tín nhiệm về khách hàng. Quan điểm về đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng khi cho vay của ngân hàng ảnh hƣởng rất lớn tới chất lƣợng tín dụng của ngân hàng. Thứ hai, giá trị hoàn trả trong quan hệ tín dụng ngân hàng thƣờng phải lớn hơn giá trị ban đầu, ngƣời đi vay ngoài phần vốn phải trả thêm một khoản lãi cho ngân hàng.
Ngân hàng kinh doanh tiền để kiếm lời, do vậy, hoạt động tín dụng phải mang lại lợi ích cho ngân hàng. Thứ ba, trong tín dụng ngân hàng, giá trị cho vay đƣơc cam kết hoàn trả vô điều kiện. Tín dụng là cho vay, nên bên đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả lại giá trị đi vay và lãi một cách vô điều kiện. 9 Thứ tƣ, tín dụng ngân hàng có tình thời hạn, là sự chuyển giao tạm thời một lƣợng giá trị trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một kỳ hạn nhất định.
Vai trò của tín dụng ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ra đời nhƣ một tất yếu, nó là cầu nối giữa những chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu về vốn để đầu tƣ và phát triển cho các chủ thể trong nền kinh tế. Một nền kinh tế, luôn tồn tại một bộ phận vốn nhàn rỗi cần đầu tƣ và một bộ phận thiếu hụt vốn kinh doanh cần đi vay. Ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính, điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, điều chuyển dòng vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu hụt. Với vai trò này, tín dụng ngân hàng đã đóng góp rất lớn trong vấn đề đáp ứng nguồn vốn kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra liên tục, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất và mở rộng kinh doanh.
Tín dụng ngân hàng thực hiện chuyển rời nguồn lực từ khu vực dƣ thừa sang khu vực kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển [5]. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò nhƣ một đòn bẩy tài chính, kích thích các chủ thể đi vay phải sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao. Điều này đòi hỏi ngƣời đi vay phải cân nhắc, lựa chọn kỹ càng phƣơng án đầu tƣ để có thể đảm bảo hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng đồng thời mang lại lợi ích cho bản thân họ. Do đó, nó tạo động lực nâng cao năng suất lao động, ứng dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại, nâng cao hiệu quả kinh doanh thúc đẩy kinh tế phát triển.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Tín dụng ngân hàng có hai đặc tính cơ bản nhất: (i) Sự tin tƣởng, tín nhiệm giữa ngân hàng và khách hàng; (ii) Tính thời hạn và hoàn trả. Do đó 10 khả năng xảy ra rủi ro tín dụng là rất lớn, rủi ro xảy ra khi khách hàng không hoàn trả đƣợc gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn đã thỏa thuận ban đầu. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro tín dụng.Fitch trong cuốn Dictionary of banking systems (1997) cho rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Trong khi đó, cuốn Risk Management in Banking (2001) của Joel Bessis cho rằng rủi ro tín dụng đƣợc hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả đuợc nợ hoặc đó là sự giảm sút chất lƣợng tín dụng của những khoản vay. Ngoài các khái niệm trên, theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng thì rủi ro tín dụng lại đƣợc hiểu là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Theo Khoản 1 Điều 3 TT 02/2013/TT-NHNN, Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo các quan điểm này, rủi ro tín dụng đƣợc đánh giá dựa trên việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của khách hàng bao gồm việc trả gốc và thanh toán lãi.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, rủi ro tín dụng đƣợc hiểu là việc ngân hàng không thu hồi đƣợc giá trị vốn đã cho vay và lãi dự kiến. 11 RRTD sẽ phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ gốc lẫn lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Luận văn cũng chỉ đề cập tới rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng (RRTD) rất đa dạng, có rất nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích.
Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại RRTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, quy trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị điều hành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, các khâu trong toàn bộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp tín dụng, giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu có dấu hiệu bất thƣờng. Thực tế cho thấy, sự phân chia trách nhiệm càng rõ ràng, càng cụ thể, càng giúp cho quá trình quản trị RRTD có hiệu quả. Rủi ro tín dụng bao gồm: (i) Rủi ro giao dịch và (ii) Rủi ro danh mục [1]. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định, phân tích tín dụng của ngân hàng để lựa chọn khách hàng cấp tín dụng. Trong quá trình này, ngân hàng rất dễ mắc phải sự lựa chọn sai lầm do hiện tƣợng “thông tin bất cân xứng”. + Rủi ro bảo đảm là rủi ro do không đảm bảo đƣợc các tiêu chuẩn bảo đảm cho giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng đƣợc diễn ra một cách suôn sẻ và an toàn cho ngân hàng. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến các thao tác trong quá trình thực hiện khoản tín dụng.
Ở đây, những sai sót của nhân viên cấp tín dụng trong quá trình giải ngân, giám sát theo dõi khoản vay có thể là xuất phát điểm cho các rủi ro từ đạo đức của khách hàng phát sinh.