CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề cơ bản về cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh “Cạnh tranh” là một thuật ngữ đã được nhắc đến nhiều hơn tại Việt Nam trong những năm gần đây. Nhất là khi kinh tế ngày càng được mở rộng, phát triển thì cạnh tranh chính là thách thức để doanh nghiệp đứng vững và tồn tại. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Theo kinh tế học định nghĩa: Cạnh tranh là sự giành giật thị trường để tiêu thụ hàng hóa giữa các doanh nghiệp. Ở đây, định nghĩa mới chỉ đề cập đến cạnh tranh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa. [7] Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị trường. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. [4] Nghiên cứu về cạnh tranh Tư bản chủ nghĩa Mác đưa ra khái niệm: cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhà sản xuất nhà phân phối bán lẻ người tiêu dùng thương nhân nhầm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. [6] Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn 6 bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tư dùng lại muốn mua được với giá thấp. Cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp là chiến lược của doanh nghiệp đối với các đối thủ trong cùng một ngành.
Từ những quan niệm về cạnh tranh nêu trên, có thể thấy về cơ bản, “cạnh tranh là một quá trình chạy đua về kinh tế liên tục không có điểm dừng của các chủ thể kinh tế, trong quá trình đó, các chủ thể kinh tế sử dụng mọi biện pháp, để giành giật, nỗ lực vượt qua đối thủ của mình để dành ưu thế, đạt được một số mục tiêu nhất định nhằm thu lợi nhuận tối đa”. Sự ra đời và phát triển của cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường mà tất cả các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đều phải tuân theo quy luật đó.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện nay và làm nẩy sinh thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. [17] Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ.
[2] Theo Michael Porter: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt được lợi nhuận cao của doanh nghiệp cùng với đó là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu 7 thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. [18] Theo tác giả Vũ Trọng Lâm: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
[3] Như vậy, từ những khái niệm nêu trên, có thể thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng sử dụng các thế mạnh của các nguồn lực (vốn, nguồn nhân lực, sản phẩm…) đã được kết hợp một cách có mục đích để tạo ra các lợi thế cạnh tranh, từ đó vượt qua các đối thủ cạnh tranh và giành lấy thị phần, khách hàng về chính doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi về cho chính doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ.
Các yếu tố xã hội như giữ được chữ tín trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác. Về cơ bản, năng lực cạnh tranh được phân thành 4 cấp độ, bao gồm: 8 Năng lực cạnh tranh quốc gia: Có thể hiểu, năng lực cạnh tranh quốc gia là toàn bộ các chính sách, thể chế và các nhân tố quyết định đến năng suất, sự phát triển và tính bền vững của một nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh ngành: cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ và đáp ứng được các yêu cầu của thị trường. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khai thác thực lực và lợi thế bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để tối đa hóa lợi ích của mình vừa thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng. Đồng thời cải tiến vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: thể hiện năng lực của sản phẩm, dịch vụ đó thay thế một sản phẩm, dịch vụ khác dựa trên các yếu tố như: giá cả, đặc tính, chất lượng… Có thể nói, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là một yếu tố xây dựng nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo các cách hiểu trên, có thể hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Như vậy năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu lớn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp và từng doanh nghiệp.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế Trong lịch sử kinh tế thế giới, các nhà kinh tế học đã nghiên cứu và chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranh. Từ thế kỷ 18, nhà kinh tế học cổ điển Anh- Adam Smith với tác phẩm “Của cải của các dân tộc” ông đã chỉ ra vai trò quan 9 trọng của cạnh tranh trong quá trình phát triển kinh tế. Ông cho rằng với sức ép của cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác và do đó tạo ra sự cố gắng lớn nhất.
[15] Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội. Hiện nay, cạnh tranh được coi là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi DN, nếu không có cạnh tranh thì không có tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vai trò cạnh tranh cũng có hai mặt, tích cực và tiêu cực được thể hiện như sau: 1.1 Tích cực Đối với nền kinh tế quốc dân Cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình lưu thông và các yếu tố sản xuất. Thông qua cạnh tranh, các nguồn tài nguyên được phân phối hợp lý hơn, dẫn đến sự điều chỉnh kết cấu ngành, cơ cấu lao động được thực hiện mau chóng và tối ưu.
Cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ của quá trình luân chuyển vốn, luân chuyển các yếu tố sản xuất, phân phối tài nguyên, tập trung sản xuất và tích lũy tư bản. Đồng thời cạnh tranh còn là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận giữa các ngành và trong nền kinh tế, do chịu ảnh hưởng của quy luật bình quân hóa lợi nhuận. Đối với DN kinh doanh Cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải không ngừng tăng cường thực lực của mình bằng các biện pháp: đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, sáng tạo và thường xuyên cải tiến kĩ thuật, công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất. Cạnh tranh nâng cao trình độ mọi mặt của người lao động, nhất là đội ngũ quản trị kinh doanh, đồng thời chọn lọc và đào thải những DN không thích nghi được với sự khắc nghiệt của thị trường.
Đối với người tiêu dùng 10 Cạnh tranh cho thấy trên thị trường, những hàng hóa nào phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng và khả năng thanh toán của người tiêu dùng, cạnh tranh làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hóa được bán trên thị trường ngày càng tăng, chất lượng ngày một tốt hơn, hàng hóa đa dạng phong phú. Vì thế, cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cạnh tranh đảm bảo cả người sản xuất và người tiêu dùng đều không thể áp đặt ý muốn cho người khác. Nói cách khác, cạnh tranh còn có vai trò là một lực lượng điều tiết thị trường.