phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, sơ đồ hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo bài luận văn gồm có ba chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Quốc tế Daiichi Group tại thị trƣờng Nhật Bản Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Quốc tế Daiichi Group tại thị trƣờng Nhật Bản. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một đặc trƣng của kinh tế thị trƣờng.
Theo các nhà kinh tế, môi trƣờng cạnh tranh có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến việc định hƣớng hành vi của các chủ thể kinh tế theo hƣớng năng suất, chất lƣợng , hiệu quả với mục tiêu chiến thắng trong cạnh tranh và kiếm tiền. Nhiều lãnh đạo, các chuyên gia trong lĩnh vực này đã đề xuất nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại , chẳng hạn nhƣ lý thuyết về “lợi thế cạnh tranh ” của Michael Porter (1979) , cho rằng các công ty phải có “ lợi thế cạnh tranh” và “ lợi thế so sánh” trong cạnh tranh quốc tế. Ông tin rằng lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh là có quan hệ mật thiết với nhau, chúng hỗ trợ nhu cầu, lợi thế cạnh tranh đƣợc phát triển dựa trên lợi thế so sánh , lợi thế so sánh đƣợc phát triển thông qua lợi thế cạnh tranh [24] Michael Porter cho rằng: “Cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định thành công hay thất bại của DN. Cạnh tranh cũng xác định tính phù hợp của các hoạt động của DN để đạt đến kết quả sau cùng, chẳng hạn như cải tiến, liên kết văn hóa hoặc thực thi đúng đắn”.
Theo từ điển Bách khoa của Việt Nam tập 1(1995, trang 357) ghi nhận: “Cạnh tranh (kinh tế, triết) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nên kinh tế thị trường bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà Tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch".[3] Trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 tại diễn đàn Liên hợp quốc thì cho rằng cạnh tranh đối với một quốc gia là "Khả năng của nước đó đạt được 11 những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian” Trong cuốn Giáo trình Quản trị chiến lƣợc, “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất , nhà phân phối , bán lẻ , người tiêu dùng , thương nhân ,.) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất , tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa , dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế , thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh nhằm giành/giữ được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Cạnh tranh không phải là sự tiêu diệt lẫn nhau của những ngƣời tham gia, sự hình thành lợi thế cạnh tranh xảy ra thông qua lợi thế cạnh tranh , mà cạnh tranh là động lực phát triển doanh nghiệp.
Cuộc cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của khoa học, giúp ngƣời tham gia đánh giá các cơ hội và lợi thế cạnh tranh của mình , mang lại sự thịnh vƣợng cho đất nƣớc. Thông qua cuộc cạnh tranh, những ngƣời tham gia xác định điểm mạnh và điểm yếu của mình cũng nhƣ các cơ hội trƣớc mắt và tƣơng lai và thử thách, từ đó rút ra những lời khuyên hữu ích nhất khi tham gia cuộc thi. Mặc dù đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh nhƣng trong kinh tế học, theo cách giải thích ở trên, cạnh tranh thƣờng đƣợc hiểu là sự cạnh tranh giữa các đơn vị kinh doanh , với tƣ cách là một thị trƣờng để thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những ngƣời bán và cũng có thể xảy ra giữa những ngƣời mua, nhƣng cạnh tranh giữa những ngƣời bán là phổ biến.
Ở Việt Nam, cạnh tranh và biến đổi kinh tế đƣợc thừa nhận nhƣ một quy luật kinh tế khách quan và đƣợc coi là nguyên tắc cơ bản của kinh doanh tổ chức và quản lý của mọi công ty. Mục đích của cạnh tranh kinh tế : tối đa hóa lợi nhuận , tăng trƣởng kinh tế chuyên nghiệp. Một điều kiện cạnh tranh cố định : phải có ít nhất hai ngƣời 12 tham gia và lợi thế của ngƣời này đặt ngƣời kia vào thế bất lợi tƣơng đối và ngƣợc lại. Phƣơng tiện truyền thông cạnh tranh : giá cả, chất lƣợng, dịch vụ, quảng cáo.
Quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế Nếu ví nền kinh tế thị trƣờng nhƣ một sân chơi thì các yếu tố kinh tế đƣợc coi nhƣ những tác nhân. Mỗi đơn vị kinh tế phải trả lời câu hỏi: nó sản xuất cái gì ? Sản xuất cho ai? Và nó đƣợc sản xuất nhƣ thế nào ? Và tất nhiên, do sự khác biệt về lợi ích nên cạnh tranh trên thị trƣờng là tất yếu để đạt đƣợc lợi nhuận tối đa. Nói cách khác , các chủ thể kinh tế đƣợc hƣớng dẫn bởi bàn tay vô hình của luật cạnh tranh. Quy luật Cạnh tranh đƣợc giải thích nhƣ sau: Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều chỉnh một cách khách quan sự cạnh tranh kinh tế giữa các công dân trong quá trình sản xuất và trao đổi của hàng hóa.
Luật Cạnh tranh quy định doanh nghiệp khi tham gia thị trƣờng phải luôn chấp nhận cạnh tranh bên cạnh hợp tác. Do đó, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng là điều tất yếu. Cạnh tranh là sự cạnh tranh giữa các bên tham gia sản xuất , kinh doanh và tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ để thực hiện tốt hơn lợi ích của họ. Ví dụ: cạnh tranh giữa Pepsi và hãng Coca cola , hãng điện thoại samsung và iphone, Nokia, hay cạnh tranh giữa các thƣơng nhân trong việc thu mua nông sản.
Cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau , ví dụ: cạnh tranh về nguyên liệu nguyên vật liệu; Cạnh tranh chiếm lĩnh thị trƣờng, giành vị trí đầu tƣ , hợp đồng, đơn hàng. Có nhiều loại cạnh tranh : cạnh tranh giữa ngƣời mua và ngƣời bán (ngƣời mua luôn muốn mua rẻ, còn ngƣời bán luôn muốn mua giá cao ). Cạnh tranh giữa ngƣời bán hoặc ngƣời mua. trong một thị trƣờng Trong nền kinh tế, cạnh tranh là tất yếu và khách quan, nó xuất phát từ mục tiêu của các chủ thể trên thị trƣờng , đó là lợi nhuận tối đa.
Nền kinh tế thị trƣờng càng phát triển thì sự cạnh tranh trên thị trƣờng càng gay gắt và gay gắt. Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Tác động tích cực 13 Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển. Trong nền kinh tế thị trƣờng , cạnh tranh là tất yếu, để tăng khả năng cạnh tranh, các đơn vị sản xuất kinh doanh không ngừng tìm tòi và thực hiện đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ , tay nghề của ngƣời lao động, hợp lý hóa quá trình sản xuất. Hai là, cạnh tranh thúc đẩy kinh tế thị trƣờng phát triển.
Để tối đa hóa lợi nhuận trong nền kinh tế thị trƣờng , bên cạnh sự hợp tác, các nhà kinh tế luôn cạnh tranh với nhau để có điều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi , họ luôn đổi mới, sáng tạo. Nhờ đó , nền kinh tế thị trƣờng không ngừng đƣợc cải thiện. Thứ ba, cạnh tranh là một cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực. Nền kinh tế thị trƣờng đòi hỏi sự sẵn có của các nguồn lực dựa trên sự cạnh tranh thông qua giá cả thị trƣờng để phân bổ nguồn lực cho những ngƣời sử dụng hiệu quả nhất.
Vì vậy, các đơn vị sản xuất kinh doanh phải cạnh tranh nhau về khả năng sử dụng các nguồn lực để thực hiện lợi ích của mình. Thứ tƣ, cạnh tranh thúc đẩy khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng , ngƣời tiêu dùng là ngƣời cuối cùng quyết định chủng loại, số lƣợng , chất lƣợng hàng hóa trên thị trƣờng. Chỉ những hàng hóa và dịch vụ do ngƣời tiêu dùng lựa chọn mới có thể đƣợc bán và nhà sản xuất kiếm đƣợc tiền.
Ngƣời sản xuất và kinh doanh đều tìm kiếm lợi nhuận tối đa , vì vậy phải tìm mọi cách để tạo ra sản phẩm đa dạng, phong phú, phong phú, rẻ, chất lƣợng cao , đáp ứng nhu cầu. • Ảnh hƣởng xấu Thứ nhất, thiệt hại do cạnh tranh không lành mạnh môi trƣờng kinh doanh và làm xói mòn các giá trị đạo đức xã hội. Thứ hai, cạnh tranh không lành mạnh gây lãng phí nguồn lực xã hội vì nó có thể hấp thụ các nguồn lực không đƣợc sử dụng trong sản xuất và thƣơng mại để tạo ra hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. 14 Thứ ba, cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho phúc lợi xã hội.
Khi tài nguyên bị lãng phí, không đƣợc sử dụng hiệu quả, xã hội có ít cơ hội hơn để đáp ứng nhu cầu và phúc lợi xã hội bị suy giảm. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh lần đầu tiên đƣợc đề cập ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1980. Theo báo cáo của Aldington (1985), doanh nghiệp cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ chất lƣợng cao hơn với giá thấp hơn so với các đối thủ khác trong nƣớc và quốc tế.
năng lực cạnh tranh có nghĩa là mang lại lợi ích lâu dài cho công ty và đảm bảo thu nhập. cho nhân viên. và doanh nhân. Định nghĩa này đã đƣợc nhắc lại trong Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vƣơng quốc Anh (1994).