MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Ngành dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Ở Việt Nam, ngành dệt may có vai trò quan trọng như góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt. Đây cùng là ngành mang lại thặng dư xuất khẩu cho nền kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, tăng phúc lợi xã hội cho đất nước.
Với lợi thế so sánh về lao động và nguồn nguyên liệu giá rẻ, ngành dệt may Việt Nam thời gian qua đã có những bước phát triển vượt bậc cả về quy mô và chất lượng (với hơn 2,5 triệu lao động đến từ hơn 5000 đơn vị sản xuất, xuất khẩu ròng luôn chiếm khoảng 5% - 7% GDP) (VCBS, 2022). Tuy nhiên, trong nền kinh tế thế giới, ngành dệt may được xếp vào nhóm ngành hàng hoá tiêu dùng không thiết yếu, nhạy cảm với chu kỳ kinh tế. Điều này khiến cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành dệt may Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào những biến động thị trường cũng như sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Có thể thấy, đại dịch Covid-19 đã gây ra tác động đa chiều đối với ngành dệt may.
Năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu dệt may toàn cầu tăng nhẹ so với thời kỳ trước dịch (2017 – 2019) bởi sự tăng lên của nhu cầu khẩu trang nhưng ngành hàng may mặc lại trở nên kém khả quan trong điều kiện thắt chặt chi tiêu giữa các đợt giãn cách xã hội. Sau những thời gian tăng trưởng vượt bậc, những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam lại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn khi thị trường xuất khẩu đang sụt giảm trong giai đoạn nửa cuối năm 2020 tới 2022 (VCBS, 2022). Hiện nay, bối cảnh quốc tế mới tác động mạnh tới hoạt động của các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam nói chung và thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam nói riêng thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau. Rất nhiều cơ hội mở ra cho các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam như: Hiệp định EVFTA, CPTPP hỗ trợ tích cực cho hoạt động xuất khẩu dệt may VN.
Thị phần dệt may của Tập đoàn dệt may VN tại Mỹ, EU và Mỹ vẫn mở rộng. Xu hướng dịch chuyển nguồn cung ứng dệt may thế giới ra khỏi Trung Quốc khiến cho Việt Nam trở thành một trong những điểm đến của các nhà nhập khẩu, hãng bán lẻ. Tập đoàn Dệt may Việt Nam với lợi 2 thế là doanh nghiệp lớn, tập trung nhiều thế mạnh và đặt được những mối quan hệ đối tác tốt với nhiều quốc gia trên thế giới cũng giúp cho các doanh nghiệp trực thuộc dễ dàng hơn trong tiếp cận thị trường quốc tế. Covid cũng làm thay đổi một số xu hướng tiêu dùng như tăng nhu cầu về các sản phẩm thể thao.
Đồng thời cũng thúc đẩy số hóa trong toàn ngành với gần 40% tổng doanh số bán hàng hiện đang được tạo ra từ các kênh kỹ thuật số. Chỉ số tiêu dùng ngày càng tăng sẽ mang lại cơ hội cho các công ty thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam như: tháng 10 CPI tại Mỹ đạt 276 điểm, tăng 6,15%, tại EU là 110 điểm, tăng 4,76% so với cùng kỳ năm trước (theo Tradingeconomics, số liệu truy cập ngày 22/11/2021). Những cơ hội này tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam vượt qua khó khăn, có thể mở rộng sản xuất và thị trường. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế mới cũng khiến các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn dệt may ở Việt Nam phải đổi mặt với nhiều thách thức.
Mặc dù hầu hết các nước trên thế giới ủng hộ tự do hoá thương mại, lập nên tổ chức thương mại quốc tế (WTO) nhưng các quốc gia vẫn cố gắng bảo hộ lợi ích riêng cho doanh nghiệp và thị trường nước mình dẫn tới sự bế tắc của vòng đàm phán DOHA. Trong khi các nước phát triển muốn các nước kém phát triển mở cửa các thị trường để hàng hóa, dịch vụ của họ được tự do lưu thông, thì tại chính thị trường nội địa của họ, họ lại đang tạo ra các loại rào cản để bảo hộ và cản trở hàng hóa, dịch vụ từ các nước kém phát triển vào nước họ, mà chủ yếu là những mặt hàng mang lại giá trị gia tăng thấp như: nông sản, thuỷ/hải sản, dệt may. Các rào cản thương mại vẫn được đặt ra cho từng loại mặt hàng riêng biệt gây khó khăn cho sản xuất và bán hàng ở nhiều quốc gia. Sự phụ thuộc vào nguồn cung ứng nguyên, phụ liệu và tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài khiến các doanh nghiệp dệt may thường rơi vào thế bị động.
Ngoài ra, những xung đột về chính trị, quân sự giữa các quốc gia lớn trên thế giới. Sự kiện Brexit – Anh rời khỏi EU, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, và mầm mống thương chiến giữa Mỹ - Liên minh Châu Âu, chiến tranh giữa Nga – Ukcraina… đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới nhu cầu của ngành Dệt may thế giới nói chung và các quốc gia xuất khẩu Dệt may nói riêng, trong đó có Việt Nam. Và gần đây nhất là dịch bệnh Covid-19, đã tác động đến trật tự kinh tế thế giới và chuỗi cung ứng toàn cầu, là nguyên nhân dẫn đến tình hình 3 kinh tế toàn cầu bị trì trệ, khủng hoảng. Các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề khi hàng loạt các khách hàng cắt đơn hàng hiện tại, không có dấu hiệu đặt đơn hàng trong tương lai.
Thêm vào đó, nhu cầu đối với hàng dệt may thế giới đang thay đổi. Những yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn sản phẩm, môi trường, hàm lượng tái chế, tiêu chuẩn lao động… ngày càng cao cùng với xu thế chuyển từ thời gian nhanh sang thời trang bền vững. Nếu như hội nhập quốc tế, các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tác động tới hoạt động thương mại của ngành dệt may thì cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 lại có ảnh hưởng sâu sắc tới sản xuất. Sự tự động hóa máy móc ngày càng cao, công nghệ ngày càng tiên tiến, máy móc dần thay thế sức người với sự ưu tiên đặt năng suất và chất lượng sản phẩm lên hàng đầu.
Cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ làm thay đổi cách thức sản xuất, quản lý, sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, tăng năng suất lao động là cốt lõi của nâng cao NLCT mà còn hình thành những phương thức phân phối và bán hàng kiểu mới dựa trên nền tảng internet. Trong cuộc cách mạng công nghiệp này, các lợi thế cạnh tranh cũng thay đổi khiến cho việc tiếp cận nâng cao NLCT của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn dệt may nói riêng phải thay đổi theo. Tất cả những bối cảnh quốc tế mới từ chính trị, văn hoá, kinh tế, công nghệ hiện nay đều ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp lớn giữ trọng trách quan trọng trong mối quan hệ kinh tế quốc tế. Trước những khó khăn, thách thức, các doanh nghiệp ngành dệt may nói chung và thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam nói riêng phải luôn nỗ lực tự chủ xử lý các tình huống trở ngại mà cốt lõi vẫn phải là nâng cao NLCT mới có thể giữ vững mục tiêu xuất khẩu, ổn định sản xuất.
Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu lý luận đầy đủ về NLCT của các doanh nghiệp trong bối cảnh quốc tế mới. Cùng với sự thay đổi của bối cảnh quốc tế mới, những yếu tố định vị NLCT của các doanh nghiệp ngành dệt may cũng thay đổi rất nhiều. Ngành Dệt may Việt Nam trước đây với lợi thế cạnh tranh là nhân công giá rẻ, kỹ năng công nhân khéo léo, có thể làm được nhiều mặt hàng khó đòi hỏi kỹ thuật may tốt. đã thu hút rất nhiều đơn hàng dưới hình thức may gia công CMT (cut, make, trim) trong suốt 20 năm qua.
4 Các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, lợi thế này đã dần trở thành bất lợi, kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp ngành Dệt may Việt Nam. Trong vài năm trở lại đây, các chi phí về lương tối thiểu cho người công nhân tăng liên tục, năm 2022 tiếp tục tăng 5,5% so với năm 2021, chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, công đoàn tăng, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam với đặc thù thâm dụng lao động do phần lớn tập trung vào may gia công. Vì vậy, bản thân các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam cần có sự thay đổi, nâng cao NLCT trong bối cảnh quốc tế mới này, bởi không chỉ là toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, mà cách mạng công nghiệp 4.0 cũng sẽ tác động rất mạnh tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
Muốn vượt qua thách thức, tận dụng tốt các cơ hội trong phát triển thì các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam hiện nay phải tập trung nâng cao năng lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực tay nghề cao, đa dạng hoá nguồn cung nguôn phụ liệu và thị trường xuất khẩu, “xanh hoá” công nghiệp dệt may, ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất mới có thể nâng cao NLCT. Những đòi hỏi này không hề đơn giản, cần phải có những nghiên cứu nghiêm túc, chi tiết và cụ thể mới đạt được tính khả thi. Tập đoàn Dệt May Việt Nam là đơn vị đầu trong ngành Dệt May Việt Nam với tổng số hơn 50 đơn vị thành viên hoạt động trong lĩnh vực dệt may, với kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm trên dưới 10% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Trong bối cảnh hiện tại, Tập đoàn Dệt May Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn nói riêng phải gánh vác trọng trách là cánh chim đầu đàn của ngành, dẫn dắt các doanh nghiệp dệt may khác mở rộng thị trường, phát triển sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng của đất nước.
Điều này đặt ra áp lực cho các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam phải nỗ lực nâng cao NLCT, trở thành định hướng, hình mẫu trong ngành vượt qua những khó khăn, thách thức và nắm bắt cơ hội. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết phải có nghiên cứu cụ thể nhằm tìm kiếm những giải pháp để nâng cao NLCT của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam trong bối cảnh quốc tế mới có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.