Chương 1 này sẽ giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu từ lý do nghiên cứu đã đưa ra mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa của nghiên cứu. Đặc biệt chương này tóm tắt các nghiên cứu liên quan trước đây Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết – mô hình nghiên cứu Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết về cạnh tranh, NLCT và các nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp như: nghiên cứu của Ambastha và Momaya (2004), Sauka (2014), Helen (2016), Nekmahmud and Rahman (2018), Lê Thị Hằng (2013), Nguyễn Thành Long (2017), Nguyễn Thị Thu Hằng (2017), Đào Trường Thành (2019). Trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của VNPT Bình Dương trong hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình được đề xuất với 6 nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của VNPT Bình Dương trong hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình là chất lượng sản phẩm, dịch vụ; giá cước dịch vụ; dịch vụ khách hàng; nguồn nhân lực của doanh nghiệp; năng lực Marketing; thương hiệu và uy tín của dịch vụ. Ngoài ra, chương này cũng giới thiệu tổng quan về VNPT Bình Dương trong hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu gồm hai bước chính: phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính thực hiện qua phỏng vấn chuyên gia với 10 người là Ban giám đốc, trưởng phó phòng 8 của VNPT Bình Dương. Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua bảng khảo sát được xây dựng từ nghiên cứu sơ bộ. Chương này cũng đưa ra cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng và kế hoạch phân tích dữ liệu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu như: thống kê mô tả, kết quả kiểm định các thang đo thông qua phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất thông qua phân tích hồi quy tuyến tính bội thông qua phần mềm SPSS 20. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra thảo luận kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương 5 tóm tắt các kết quả nghiên cứu và đưa ra hàm ý quản trị đối với Ban quản trị VNPT Bình Dương dựa trên kết quả nghiên cứu trình bày trong chương 4. Chương 5 gồm ba phần chính: (1) Tóm tắt các kết quả nghiên cứu (2) Một số hàm ý đối với Ban quản trị VNPT Bình Dương và (3) là hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về cạnh tranh và NLCT 2. Lý thuyết về cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ (Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2004).
Cạnh tranh là một qua hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự thuận tiện (Đặng Đức Thanh, 2010). Vai trò của cạnh tranh Đối với nền kinh tế nói chung Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế. Nó là chất xúc tác để phát triển lực lượng sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp hiện đại hóa nền kinh tế.
Hơn nữa, cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp sử dụng tối ưu các nguồn lực của mình. Như vậy, cạnh tranh không những có vai tò thúc đẩy nền kinh tế mà còn kích thích các doanh nghiệp sử dụng tối đa các nguồn lực góp phần phân bổ nguồn lực có hiệu quả nhất. Đối với mỗi doanh nghiệp Cạnh tranh là môi trường tốt để sàng lọc lựa chọn và đào thải những doanh nghiệp yếu kém, những doanh nghiệp không tận dụng được nguồn lực và các ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Do đó, có thể nói, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vì thế, cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh 10 nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân. từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn.
Cạnh tranh buộc doanh nghiệp không ngừng cải tiến, đổi mới công nghệ, phương thức sản xuất, đổi mới cách quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất, tăng lợi nhuận… Đối với ngƣời tiêu dùng Cạnh tranh tạo sự lựa chọn phong phú, rộng răi hơn, đảm bảo tính ổn định về mặt giá cả giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Như vậy, cạnh tranh là nhân tố điều tiết thị trường, quan hệ cung cầu, góp phần làm lành mạnh hóa các mối quan hệ trong xă hội. Hơn thế nữa, cạnh tranh đem đến cho người tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ tốt hơn, rẻ hơn, đẹp hơn. Các công cụ cạnh tranh.
Chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một khái niệm đã được quan tâm và tranh luận của rất nhiều nhà nghiên cứu vì không có sự đồng thuận chung trong việc khái niệm và đo lường nó (Wisniewski, 2001). Theo Svensson (2002), chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ. Gronross (1990) cho rằng dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hoá hay hệ thống cung cấp dịch vụ - nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng. Tuy nhiên, khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể không đề cập đến đóng góp to lớn của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988).
Họ cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng 11 cách chênh lệch giữa sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả khi sử dụng dịch vụ. Nếu như trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm , dịch vụ. Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả măn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn. Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả măn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm.
Cạnh tranh về giá Giá cả được hiểu là toàn bộ số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hoá, dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu. Giá cả dịch vụ thể hiện cảm nhận của khách hàng về mối tương quan giữa số tiền mình bỏ ra so với chất lượng dịch vụ mang lại. Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh.
Nếu như chênh lệch giá giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh thì lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đa đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh. Vì lẽ đó sản phẩm của doanh nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, điều đó sẽ đưa doanh nghiệp lên vị trí cạnh tranh ngày càng cao. Hạ giá thành là phương pháp cuối cùng mà doanh nghiệp sẽ thực hiện trong cạnh tranh bởi hạ giá thành ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp.VÌ vậy doanh nghiệp cần phải lựa chọn thời điểm để tiến hành sử dụng giá cả làm vũ khí cạnh tranh. Như thế doanh nghiệp phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá cả và các bộ phận về chiết khấu với những phương pháp bán mà doanh nghiêp đang sử dụng, với những phương pháp thanh toán, với xu thế, trào lưu của người tiêu dùng.
12 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả nỗ lực, kỹ năng và khả năng của những người làm việc cho tổ chức (Manmohan, 2013). Nguồn nhân lực đóng một vai trò quan trọng đối với NLCT của bất cứ tổ chức nào (Wayne, 2010). Wayne (2010) cho rằng con người là một thành phần quan trọng đối với mọi doanh nghiệp, không có con người thì tổ chức không thể tồn tại. Chất lượng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp sẽ tác động đến năng suất mà họ cung cấp (Porter 1980).
Theo Manmohan (2013), người nhân viên sẽ làm tốt công việc của mình vì lợi ích của tổ chức cũng như lợi ích của chính họ nếu như họ được quản lý một cách hiệu quả. Để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra, mỗi một người nhân viên phải tham gia vào việc đưa ra các giải pháp và tận tâm để thực hiện chúng (Anne, 1994). Người lao động phải hiểu công việc của mình đóng góp như thế nào vào sự thành công của doanh nghiệp (Brian và cộng sự, 2001). Theo các tác giả này, nguồn nhân lực được coi là một tài sản của doanh nghiệp vì họ đóng một vai trò then chốt trong việc thực hiện mục tiêu, chiến lược và cũng là nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Cùng quan điểm trên, Tổ chức càng hoạt động hiệu quả bao nhiêu thì NLCT của họ càng tốt bấy nhiêu.