phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo thì luận văn được kết cấu thành 3 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ - Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của dịch vụ VNPT-CA tại Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) - Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ VNPT-CA tại Công ty VDC 7 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LƢ̣C CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM, DỊCH VỤ 1. Cơ sở lý luâ ̣n về ca ̣nh tranh, năng lƣc̣ ca ̣nh tranh 1. Cơ sở lý luâ ̣n về ca ̣nh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, quân sự…và có nhiều cách quan niệm dưới các góc độ khác nhau: Trong tác phẩm “ C.Ăng-ghen toàn tập” K.
Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch” [16]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” [11]. Theo cha đẻ của lý thuyết cạnh tranh hiện đại Michael E. Porter, “Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi” [22]. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường [25]. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo.
Ba tác giả Mỹ khác là D. Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết: Một cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua [3]. Cùng quan điểm như trên, R.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vi mô cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người 8 z mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả [36]. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh nhưng tựu chung lại có thể rút ra những nét chung cơ bản như sau: Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế là sự ganh đua giữa những cá nhân, doanh nghiệp thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp nhằm giành lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh để đạt được các mục tiêu của mình trong điều kiện môi trường kinh doanh cụ thể.
Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, điều kiện sản xuất , điều kiện tiêu thụ thuận lợi hơn … 1. Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh. Cạnh tranh xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, khi dưới tác động của các quy luật cung-cầu và quy luật giá trị các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm hàng hóa cho người tiêu dùng. Cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất là khan hiếm.Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng tồn tại các mặt tiêu cực như gây phá sản, thất nghiệp, gây rối loạn khi người kinh doanh bất chấp pháp luật, quy tắc đạo đức để triệt hạ đối thủ. Cạnh tranh xuất hiện khi có các điều kiện sau: - Phải có từ hai chủ thể trở lên cùng tham gia cạnh tranh; các chủ thể này phải có cùng các mục tiêu phải giành giật; - Phải có một môi trường cụ thể để cạnh tranh được diễn ra với các quy định, quy tắc chung mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ; - Có thời gian không cố định để cạnh tranh diễn ra; - Có không gian xác định để diễn ra hoạt động cạnh tranh. Chức năng của cạnh tranh Đối với nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật với những chức năng quan trọng như: 9 z - Chức năng điều tiết mối quan hệ cung cầu trên thị trường: khi cung một hàng hoá dịch vụ nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán để cung ứng sản phẩm làm cho giá cả thị trường giảm xuống; giá giảm lợi nhuận giảm dẫn đến các nhà cung ứng giảm hoạt động sản xuất dẫn tới giảm cung. Khi cung giảm tới mức thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trường, cạnh tranh giữa những người mua sẽ làm giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân dẫn tới giảm cầu tại thời điểm đó tuy nhiên lại khuyến khích các nhà cung ứng tăng cung và đưa cung cầu trở lại điểm cân bằng.
- Chức năng điều tiết việc sử dụng các nhân tố sản xuất: để có thể có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn trên thương trường cũng như tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để tối thiểu hóa chi phí, trong đó sử dụng hợp lý mọi nguồn lực sản xuất và phát huy hết khả năng vốn có để đem lại năng suất sản xuất cao giá thành hạ là yêu cầu bắt buộc. - Chức năng thúc đẩy đổi mới công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến: công nghệ luôn luôn biến đối và sự lựa chọn của người tiêu dùng cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Cạnh tranh để đáp ứng được cầu của người tiêu dùng đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên tìm cách đổi mới công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến nhằm sản xuất ra các sản phẩm giá thành hạ hoặc khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh để giành được lợi thế trên thị trường. - Chức năng phân phối và điều hoà thu nhập: cạnh tranh luôn khiến các doanh nghiệp không được phép bằng lòng với những gì đã đạt được trong quá khứ bởi các đối thủ cạnh tranh cũng sẽ luôn thay đổi và có thể giành lại các thị phần và vượt trội về thu nhập bất kỳ lúc nào đặc biệt trong kỷ nguyên công nghệ và trị thức hiện nay.
Thông qua cạnh tranh vị trí các doanh nghiệp và thu nhập mà họ thu được là liên tục thay đổi nhờ đó chức năng điều hòa thu nhập được thể hiện. - Chức năng làm cho sản xuất thích ứng với biến động của cầu và công nghệ sản xuất. Để sản phẩm đưa ra thị trường cạnh tranh được với các sản phẩm của doanh nghiệp khác và được người tiêu dùng chấp nhận, đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên tìm hiểu hành vi tiêu dùng và các công nghệ mới để định hướng sản xuất. Quá 10 z trình đó giúp hoạt động sản xuất thích ứng được với cầu biến động và công nghệ thay đổi.
Phân loại cạnh tranh Để phân loại cạnh tranh có thể dựa trên một số tiêu thức sau: - Căn cứ vào loại mục tiêu kinh tế + Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, còn người mua lại muốn mua sản phẩm, dịch vụ với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá thống nhất giữa những người bán và người mua sau quá trình đàm phán với nhau. + Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là việc giành giật nhằm đạt được thị phần, các điều kiện sản xuất, thu nhập, lợi nhuận vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh. + Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: mục tiêu đối với loại hình cạnh tranh này là có được hàng hóa, dịch vụ mà họ cần, nó thể hiện rõ nhất trong điều kiện cung nhỏ hơn cầu.
- Căn cứ vào phạm vi ngành + Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này diễn ra xu hướng các doanh nghiệp điều chuyển vốn từ ngành lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao và sau một thời gian nhất định xu hướng trên sẽ dẫn tới tình trạng là cùng số vốn như nhau đầu tư vào các ngành khác nhau sẽ chỉ thu được lợi nhuận bằng nhau. + Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường với mục tiêu giành được các lợi thế về tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và lợi nhuận so với đối thủ cạnh tranh. - Căn cứ vào phạm vi địa lý: + Cạnh tranh trong nước: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng cung ứng một loại sản phẩm, dịch vụ tại thị trường Việt Nam.
Doanh nghiệp đó có thể là doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp 11 z nước ngoài hoặc doanh nghiệp nước ngoài hiện diện thông qua nhà nhập khẩu trong nước. + Cạnh tranh quốc tế: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng cung ứng một loại sản phẩm, dịch vụ trên thị trường quốc tế. Doanh nghiệp tham gia có thể cùng một nước hoặc từ nhiều nước khác nhau. - Căn cứ theo cấp độ cạnh tranh + Cạnh tranh cấp quốc gia: diễn ra giữa các quốc gia với nhau nhằm giành được các lợi ích kinh tế, chính trị các lợi thế về vốn đầu tư, công nghệ, xuất khẩu… đồng thời duy trì và nâng cao thu nhập của người dân nước đó.
+ Cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp: diễn ra giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm dành được các yếu tố có lợi về đầu vào, đầu ra của sản phẩm dịch vụ để tồn tại và phát triển. + Cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm, dịch vụ: diễn ra giữa các sản phẩm, dịch vụ nhằm có thể được người tiêu dùng tiêu thụ nhiều hơn trên thị trường. Thông thường các biện pháp thường được các doanh nghiệp áp dụng đó là: nâng cao chất lượng, giảm giá, cung cấp thêm các dịch vụ sau bán hàng.