CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ logistics của doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ logistics Khái niệm Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra sôi động trên tất cả các khu vực kinh tế và quốc gia trên toàn thế giới, xu thế hội nhập kinh tế quốc ngày càng sâu rộng, chúng ta đang hướng tới một nền kinh tế toàn cầu, với những công dân toàn cầu và rào cản thương mại giữa biên giới quốc gia dần được dỡ bỏ thì logistics là một khái niệm không còn quá xa lạ như trước. Về mặt lịch sử, thuật ngữ logistics bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã.
Khi đó, những chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụ chu cấp và phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm bảo điều kiện cho quân sỹ hành quân an toàn từ bản doanh đến một vị trí khác. Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương. Quá trình tác nghiệp đó dần hình thành một hệ thống mà sau này gọi là quản lý logistics. Trong lịch sử phát triển của sản xuất hàng hóa và giao thương, về bản chất, hoạt động logistics là những hoạt động quản lý phục vụ quá trình sản xuất và phân phối, lưu thông như khai thác nguyên liệu, thu gom, vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm từ nơi có nguyên liệu đến nơi sản xuất, lưu kho, đóng gói, bốc xếp, vận chuyển, giao nhận… cho đến nơi tiêu dùng.
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm này, tùy vào cách tiếp cận hay bối cảnh nghiên cứu. Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu về logistics, cụ thể: Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), khái niệm “logistics” được giải thích như sau: Logistics được hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên 5 vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (CLM), nay đổi tên thành Hội đồng các nhà quản trị chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (The Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP), logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng tiến hành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc chu chuyển, lưu kho hàng hóa, xử lý thông tin, cùng với các dịch vụ liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu lực, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Theo Hiệp hội quản lý logistics Canada (CALM), logistics là việc lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả với chi phí thấp nhất quá trình lưu chuyển và dự trữ nguyên liệu, hàng tồn kho, thành phẩm và các thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.Lambert và Cộng sự (1998), Logistics là một quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo Coyle và Cộng sự (2008), Logistics là phần quá trình của chuỗi cung ứng giữ vai trò lập kế hoạch, triển khai và kiểm soát hiệu quả dòng chảy và việc cất giữ hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ điểm nguồn tới điểm tiêu thụ với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Xét về khung khổ pháp lý cho hoạt động dịch vụ logistics tại Việt Nam thì Luật Thương mại (2005) và Nghị định 163/2017/NĐ–CP là hai văn bản pháp luật quy định chung nhất và cơ bản nhất về hoạt động logistics hiện nay. Điều 233 Luật Thương mại 2005 quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”.
6 Theo Nghị định 163/2017/NĐ–CP, hoạt động logistics có nhiều loại hình dịch vụ khá đa dạng, cụ thể được phân loại như sau: Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay. Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển. Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải. Dịch vụ chuyển phát.
Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa. Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan). Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải. Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng.
Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ.
Dịch vụ vận tải hàng không. Dịch vụ vận tải đa phương thức. Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật. Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu của bài, tác giả xin được tiếp cận theo góc độ vi mô và vĩ mô, cụ thể hơn logistics là một khoa học và cũng là ngành dịch vụ của nền kinh tế quốc dân. Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ… từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã 7 hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng. Gắn liền với quá trình trên, nếu hiểu theo nghĩa hẹp hơn và cụ thể hơn, dịch vụ logistics trong nền kinh tế quốc dân là hoạt động thương mại bao gồm các dịch vụ bổ sung về vận chuyển, giao nhận, kho hàng, hải quan, tư vấn khách hàng và một số dịch vụ khác liên quan đến vận tải, giao nhận hàng hóa nhằm đảm bảo quá trình phân phối, lưu chuyển hàng hóa diễn ra một cách hiệu quả nhất, chi phí thấp nhất và đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng.
Đặc điểm Dịch vụ logistics là tổ hợp các hoạt động liên tiếp nhau, có tính xuyên suốt cả quá trình. Về bản chất, logistics là một quá trình, điều đó có nghĩa logistics không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác động qua lại mật thiết với nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Do đó, logistics xuyên suốt cả quá trình, từ giai đoạn quản lý nguyên liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Logistics là dịch vụ thiết yếu hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp.
Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã được rời khỏi dây chuyền sản xuất của nhà máy và đến tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Ngay từ các yếu tố đầu vào như máy móc để vận hành, nguyên vật liệu sản xuất…logistics đã gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp, xuyên suốt dây chuyền sản xuất, logistics xuất hiện trong từng bước quy trình để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kiểm soát, điều phối và quản lý dòng lưu trữ, vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm. Sau đó, logistics còn xuất hiện ở giai đoạn lưu kho, đóng gói và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng. Do vậy, có thể thấy sự gắn bó và thiết yếu của hoạt động logistics đối với hoạt động của doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ quan trọng của nó tới doanh nghiệp.
Logistics là sự phát triển cao hơn, hoàn chỉnh và toàn diện hơn của dịch vụ giao nhận, vận tải hàng hóa. Cùng với sự phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hóa khái niệm giao nhận, vận tải truyền thống. Từ thời sơ khai, bên dịch vụ chỉ thay 8 mặt khách hàng để vận chuyển, giao nhận hàng hóa. Sau đó, dịch vụ này đã phát triển lên những mức độ cao hơn, từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện một số dịch vụ rời rạc như đặt chỗ trên tàu, đóng gói hàng, lưu kho, vận chuyển hàng, thủ tục thông quan…thì đã xuất hiện thêm dịch vụ logistics trọn gói từ kho người sản xuất đến kho người nhận cuối cùng (door to door).
Ở một mức độ phát triển toàn diện hơn, dịch vụ logistics còn cung cấp hoạt động kiểm soát, phân phối và tư vấn giảm thiểu các chi phí vận hành, loại bỏ các giai đoạn và chi phí thừa thãi nhằm tăng tối đa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong bối cảnh hiện nay, bên cung cấp dịch vụ logistics còn có thể được ủy thác để trở thành một chủ thể trong các hoạt động giao nhận, vận tải hàng hóa thay mặt khách hàng chứ không chỉ là một đại lý giao nhận, vận tải hàng hóa đơn thuần. Vai trò của dịch vụ logistics Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối luồng hàng hóa, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế. Thị trường toàn cầu đang không ngừng phát triển với các tiến bộ công nghệ, một thị trường toàn cầu không biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ là xu thế tất yếu của nền kinh tế toàn cầu khi hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ.