Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ ẢNH HƢỞNG LOGISTICS ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP DỆT MAY KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN. Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN. 6 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát về hoạt động Logistics 1. Khái quát về hoạt động Logistics Hiện nay có rất nhiều khái niệm về logistics, mỗi nhà nghiên cứu ở mỗi góc độ khác nhau nên đƣa ra các khái niệm cũng có sự khác biệt. Điển hình nhƣ một số khái niệm dƣới đây: - Theo Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lƣu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi đƣợc tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của ngƣời tiêu dùng. (Đặng Đình Đào, 2012) - Theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc (2002), Logistics là hoạt động quản lý quá trình lƣu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lƣu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay ngƣời tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.
(Liên Hiệp Quốc, 2002) - Theo Giáo sƣ ngƣời Anh Martin Christopher thì cho rằng: “Logistics là quá trình quản trị chiến lƣợc công tác thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tƣơng ứng) trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tƣơng lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất”. - Logistics là quá trình tối ƣu hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất phân phối cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.TS Đoàn Thị Hồng Vân đã định nghĩa trong tài liệu “Logistics – Những vấn đề cơ bản” (NXB Thống kê năm 2003): “Logistics là quá trình tối ƣu hoá các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Logistics đƣợc mô tả là các hoạt động (dịch vụ) liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan… Logistics là tập hợp các hoạt động của nhiều ngành nghề, công đoạn trong một quy trình hoàn chỉnh (Đoàn 7 Thị Hồng Vân, 2010). Từ các khái niệm trên có thể hiểu Logistics là những dịch vụ liên quan đến hoạt động đảm bảo tối ƣu toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm từ việc cung ứng đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm, đƣợc các doanh nghiệp tự tổ chức thực hiện hoặc thuê ngoài mà có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp trên thị trƣờng.1 cho thấy Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ việc nhập nguyên liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn, vật tƣ, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết và công nghệ. Các hoạt động này cũng đƣợc phối kết hợp trong một chiến lƣợc kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp từ tầm hoạch định đến thực thi, tổ chức và triển khai đồng bộ từ mua, dự trữ, tồn kho, bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói… - Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng [8]: “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh nhƣ nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty với nhau.
Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và kết dính. Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics đã nêu cũng nhƣ những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về qui trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông tin”.1: Các thành phần và hoạt động cơ bản của Quản trị logistics Nguồn: Lamber, Strategic logistics management, page 3 Sự khác nhau cơ bản giữa chuỗi cung ứng và logistics, đó là: (i) Với khái niệm trên, chuỗi cung ứng có nội hàm rộng hơn và bao gồm cả logistics và quá trình sản xuất; (ii) Logistics nhấn mạnh đến tính tối ƣu của quá trình, còn chuỗi cung ứng chỉ nói đến quá trình, đến các mối liên kết [15]. Do vậy, có thể xác định vị trí của dịch vụ logistics trong chuỗi cung ứng theo Sơ đồ 1.2: Vị trí của dịch vụ logistics trong chuỗi cung ứng [8] 9 Trong chuỗi cung ứng, logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tối ƣu hóa vị trí của các nguồn tài nguyên.
Cấp độ thứ hai liên quan đến việc tối ƣu hóa các dòng vận động trong hệ thống. Hiện có nhiều định nghĩa về logistics và dịch vụ logistics và có thể phân thành hai cách tiếp cận. - Tiếp cận logistics nhƣ là một quá trình tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của ngƣời tiêu dùng cuối cùng, tiêu biểu là các định nghĩa: Theo Hội đồng quản trị logistics (Council of Logistics Management - CLM, 1991): Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặt chi phí dòng lƣu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn đƣợc các yêu cầu của khách hàng. Đây là định nghĩa phổ biến và đƣợc nhiều ngƣời đồng tình hiện nay.
Logistics là hoạt động quản lý quá trình lƣu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lƣu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay ngƣời tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng [23]. Theo các quan niệm trên, logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đƣa vào các kênh lƣu thông, phân phối đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Ở đây có sự phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ nhƣ dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tƣ vấn quản lý… với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, ngƣời sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình từ sản xuất đến khi đƣa hàng hóa tới tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. - Tiếp cận logistics nhƣ là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lƣu thông hàng hóa và logistics là hoạt động thƣơng mại gắn với các dịch vụ cụ thể, tiêu biểu có các định nghĩa: Năm 2005, khái niệm về dịch vụ logistics đƣợc đƣa vào Luật thƣơng mại của Việt Nam:“Dịch vụ logistics là hoạt động thƣơng mại, theo đó thƣơng nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hƣởng thù lao”[25].
Phân loại hoạt động Logistics a. Phân loại dựa trên cơ sở phạm vi doanh nghiệp Logistics nội biên (logistics nội bộ) - Trong dòng chảy của vật tƣ có phân khúc trong nhà máy. Vật tƣ nguyên liệu đƣợc đƣa từ kho vào nơi sản xuất và chúng đƣợc xử lý trong quá 15 trình sản xuất. Hoạt động này còn đƣợc gọi là logistics sản xuất hay logistics nội bộ.
Đó là một phần của qui trình sản xuất. - Nhiệm vụ của logistics nội bộ là thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất trong công ty. Do đó, logistics nội bộ phải vận chuyển các nguyên vật liệu, bán thành phẩm đến các bộ phận trong qui trình sản xuất. - Logistics nội bộ đóng vai trò quan trọng đối với các công ty sản xuất chế biến.
Vai trò của logistics nội bộ đã và sẽ thay đổi bởi nó quyết định lƣợng tồn kho, tính kịp thời trong sản xuất. Doanh nghiệp phải đảm nhận và hoàn thiện chu trình logistics nội bộ, doanh nghiệp không thuê ngoài dịch vụ này. Logistics ngoại biên (logistics thuê ngoài) - Logistics ngoại biên là cách thức mà công ty đặt mua nguyên vật liệu từ các nhà cung ứng đến công ty hoặc nơi sản xuất và cách thức phân phối hàng hóa đến thị trƣờng. - Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất thƣờng thuê các công ty bên ngoài chuyên kinh doanh và cung ứng dịch vụ này thực hiện.
Logistics ngoại biên bao gồm logistics đầu vào (Inbound logistics), logistics đầu ra (Outbound logistics) và logistics thu hồi (Reverse logistics). o Logistics đầu vào - Inbound logistics: nhiệm vụ là vận chuyển, cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố cần thiết cho sản xuất từ nhà cung ứng đến nhà máy hoặc là nơi sản xuất. Logistics đầu vào còn chịu trách nhiệm điều tiết mối quan hệ giữa công ty và nhà cung ứng nguyên vật liệu. o Logistics đầu ra - Outbound logistics: vận chuyển, phân phối nguyên liệu, thành phẩm từ nhà máy đến ngƣời sử dụng.
Ngƣời sử dụng ở đây có thể là các nhà sản xuất, những đại lý, những ngƣời bán lẽ hoặc là ngƣời tiêu dùng cuối cùng.