chương I của Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Doanh nghiệp thương mại là tổ chức kinh tế hợp pháp, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá bao gồm đầu tư tiền của, công sức và tài năng… vào lĩnh vực mua bán hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường nhằm kiếm lợi nhuận. Kinh doanh thương mại là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong lưu thông hàng hoá, vì vậy doanh nghiệp thương mại là cầu nối trung gian giữa doanh nghiệp sản xuất và thị trường tiêu dùng. “Sản phẩm” mà doanh nghiệp thương mại tạo ra cho nền kinh tế quốc dân là các sản phẩm hàng hoá đến được nơi có nhu cầu sử dụng một cách đầy đủ, kịp thời và thuận lợi cho khách hàng.
Vì thế khi lựa chọn nguồn hàng để mua, doanh nghiệp thương mại đã phải dựa vào nhu cầu của khách hàng, đồng thời phải tính toán kỹ lỗ, lãi, nguồn vốn, phải giảm chi phí kinh doanh, chi phí lưu thông để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp thương mại mới có điều kiện để mở rộng và phát triển kinh doanh. Trong điều kiện cạnh tranh, để thu hút được khách hàng mới cũng như giữ chân được khách hàng truyền thống, doanh nghiệp thương mại phải tạo được nguồn hàng có chất lượng tốt, ổn định, giá cả phải chăng, phải đảm bảo thoả mãn đầy đủ, kịp thời và thuận lợi nhu cầu hàng hoá cho khách hàng. Hiệu quả kinh doanh được xác định bằng doanh thu và chi phí kinh doanh. Doanh nghiệp thương mại muốn tối đa hoá lợi nhuận phải tối đa hoá doanh thu và tối thiểu hoá chi phí.
Theo quan điểm của kinh tế học thị trường hiện đại, kinh doanh thương mại cũng là một hoạt động dịch vụ. Hoạt động dịch vụ này bao gồm việc tiêu thụ hàng hoá cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và bán hàng cho khách hàng. Phát triển hoạt động dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thương mại là phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ việc mua bán, dự trữ, bảo quản, bốc dỡ, phân loại, chọn lọc, đóng gói, hướng dẫn sử dụng, vận hành, lắp đặt…nhằm đảm bảo đưa hàng hoá đến khách hàng một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi và văn minh, giảm tối đa sự chờ đợi, sự mất thời gian, công 4 sức và phương tiện ở phía khách hàng. Lẽ đương nhiên thu nhập về dịch vụ bán hàng cho khách có thể tính gộp vào doanh thu bán hàng hoặc tính riêng các khoản dịch vụ mà khách hàng yêu cầu để đảm bảo thu nhập về dịch vụ có thể duy trì và phát triển ngày càng nhiều dịch vụ phục vụ khách hàng.
Để đưa được đúng sản phẩm và dịch vụ tới đúng địa điểm, thời gian và hoàn cảnh yêu cầu, đồng thời phải đem lại những đóng góp lớn nhất cho doanh nghiệp đây chính là sứ mệnh của Logistics. Logistics theo nghĩa rộng chính là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng. Như vậy, logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo nghĩa hẹp, logistics được hiểu như là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và Logistics là hoạt động thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể.
Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233), quy định: "Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao". Như vậy, hoạt động logistics bao gồm nhiều hành vi về các dịch vụ logistics nêu trên được lặp đi lặp lại để hưởng thù lao (thu lợi nhuận) như hoạt động vận chuyển, giao nhận hàng hóa, hoạt động kho hàng, hoạt động giao hàng, hoạt động tư vấn, dịch vụ khách hàng, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics khác…Và đối với một doanh nghiệp thương mại thì hoạt động kho vận cũng là một trong các hoạt động logistics của doanh nghiệp, là hoạt động không thể thiếu trong doanh nghiệp. Khái niệm về kho vận Kho vận là một hệ thống các hoạt động liên quan đến việc lưu trữ, bảo quản, xử lý và vận chuyển hàng hóa đến nơi tiêu thụ theo yêu cầu nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và kinh doanh. Kho vận là một mắt xích quan trọng nhất trong hoạt động logistics doanh nghiệp.
Các hoạt động chính trong kho vận tại doanh nghiệp bao gồm: tiếp nhận, bảo quản và lưu trữ hàng hóa trong điều kiện phù hợp để đảm bảo chất lượng và giá trị của hàng hóa; vận chuyển hàng hóa từ kho đến điểm tiêu thụ theo yêu cầu của khách hàng; theo dõi, kiểm soát lượng hàng hóa trong kho, chuẩn bị hàng hóa theo yêu cầu của khách hàng v. 5 “Kho” là nơi thực hiện việc dự trữ, bảo quản và chuẩn bị hàng hoá nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phí thấp nhất. Theo cách hiểu truyền thống, nhà kho đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ nguyên liệu và thành phẩm dài hạn. Nhà sản xuất tiến hành sản xuất hàng hoá, sau đó lưu kho và cuối cùng bán hàng hoá trong kho ra thị trường.
Theo cách hiểu hiện đại, với sự xuất hiện của thuật ngữ "just in time" và những thay đổi trong chuỗi logistics, kho không chỉ đơn thuần là phương tiện cất trữ hàng hoá trong một khoảng thời gian dài mà còn là nơi tạo ra giá trị gia tăng cho hàng hoá theo yêu cầu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ngày càng tích cực cập nhật thông tin, tổ chức hoạt động logistics để có thể giảm, tiến tới không phải lưu kho, mua hàng với số lượng thích hợp và sử dụng kho như một địa điểm để gom, tách, ghép đồng bộ, hoàn thiện hàng hoá, để phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tiết kiệm chi phí vận tải và các dịch vụ khác. Xét theo gốc độ kinh tế - xã hội, kho được hiểu như một đơn vị kinh tế có chức năng tiếp nhận, lưu giữ, bảo quản, xuất nguyên vật liệu, bán thành phẩm trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của quá trình cung ứng hàng hoá cho khách hàng với hiệu quả cao. Hoạt động lưu kho liên quan trực tiếp đến việc tổ chức, bảo quản hàng hóa, dự trữ, chuẩn bị lô hàng theo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp.
“Vận tải là quá trình tác động lực vào các vật thể để dịch chuyển vật thể nào đó từ vị trí này đến vị trí khác”. Vận tải gắn liền với nhu cầu sinh hoạt, sản xuất hàng ngày của con người. Người vận tải là tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hoặc phương tiện thủy nội địa để thực hiện vận chuyển hàng hóa nguy hiểm (Theo Nghị định 42/2020/NĐ-CP). Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông.
Mác đã từng nói: "Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải". Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD, chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10 - 15% giá FOB, hay 8 - 9% giá CIF. Trong các ngành khác nhau, tỷ trọng của chi phí vận chuyển trong tổng chi phí có thể rất khác nhau: trong ngành luyện kim, chế biến gỗ xi măng, hoá chất… chi phí vận chuyển có thể chiếm đến 20-40% giá thành sản phẩm; trong ngành điện thì chi phí vận tải chỉ chiếm 1%.
Nhưng dù cao hay thấp thì chi phí vận tải cũng là không thể thiếu và ngay cả khi không đề cập đến chi phí thì vận tải vẫn có vai trò quan trọng, vì nếu không có vận tài thì hoạt động lưu thông hàng hoá không thể diễn ra được. Vì vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics doanh nghiệp nên vận tải ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí vận tải 6 và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Ý nghĩa vai trò của hoạt động kho vận đối với sự phát triển của doanh nghiệp Hoạt động kho vận đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả chuỗi cung ứng hàng hoá dịch vụ và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Thứ nhất, hoạt động kho vận giúp tối ưu hóa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Hoạt động kho vận tốt giúp quản lý hàng tồn kho hiệu quả. Doanh nghiệp có thể theo dõi và kiểm soát lượng hàng hóa, đảm bảo nguồn cung ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường một cách kịp thời. Từ đó, tối ưu hóa chi phí lưu kho, giảm thiểu rủi ro tồn kho dư thừa hoặc thiếu hụt. Ngày nay, hệ thống kho vận hiện đại, ứng dụng công nghệ tiên tiến tự động hóa quy trình thủ công, giúp nâng cao hiệu quả năng suất hoạt động, tiết kiệm thời gian, nhân công và giảm thiểu sai sót trong quá trình xử lý đơn hàng.
Quy trình xuất nhập kho nhanh chóng, khoa học giúp rút ngắn thời gian vận chuyển, giao hàng, góp phần tăng tốc độ lưu thông hàng hóa, tăng khả năng quay vòng vốn cho doanh nghiệp. Hoạt động vận tải tốt đảm bảo cung cấp hàng hóa dịch vụ đúng thời gian, đúng địa điểm gia tăng giá trị hàng hóa dưới điều kiện chi phí là thấp nhất. Không những vậy, nó còn ảnh hưởng đến kết quả của các hoạt động khác trong chuỗi cung ứng và tất nhiên, ảnh hưởng đến sản phẩm và giá bán. Thông thường giá cước vận tải chiếm 40-60% giá trị hoạt động logistics.
Đối với các sản phẩm có thể tích nhỏ, khối lượng thấp, giá trị cao, giá cước vận tải thường chiếm một phần rất nhỏ trong giá bán. Tuy nhiên, với các sản phẩm khối lượng cao, giá trị thấp, giá cước vận tải chiếm phần lớn trong giá bán.