Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Khái quát những nội dung liên quan đến đề tài của khóa luận bao gồm: tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Giải thích lý do lựa chọn và khẳng định tính độc nhất, không trùng lặp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận của cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển bao gồm: khái niệm, đặc điểm, vai trò và quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển. Làm khung lý luận để phân tích thực trạng cung ứng ở chương III và làm tiêu chuẩn để đưa ra giải pháp hoàn thiện ở chương IV.
Chương 3: Phân tích thực trạng cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty Cổ phần Quốc tế Hảo Vận Giới thiệu khái quát về công ty, sự ảnh hưởng của môi trường đến việc cung ứng dịch vụ logistics, tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty Cổ phần Quốc tế Hảo Vận. Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty Cổ phần Quốc tế Hảo Vận Dựa trên dự báo thị trường và phương hướng phát triển của công ty, kết hợp với cơ sở lý luận ở chương II và kết quả phân tích thực trạng cung ứng ở chương III; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty Cổ phần Quốc tế Hảo Vận. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Một số khái niệm cơ bản về cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển 2.
Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics 2. Khái niệm về logistics Hoạt động logistics đã tồn tại từ rất lâu từ lúc con người biết đến dự trữ lương thực sau mùa thu hoạch, hay việc vận chuyển tơ lụa từ Trung Quốc đến khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, thuật ngữ “logistics”, trong tiếng Việt từ tương đương gần nhất là “hậu cần”, chỉ xuất hiện và được sử dụng trong vài thế kỷ trước trong các cuộc chiến tranh của đế chế Hy Lạp và La Mã khi các binh sĩ vận chuyển, phân phối các nhu yếu phẩm như: lương thực, vũ khí, thuốc men … từ căn cứ ra tiền tuyến. Cho đến nay, khái niệm logistics đã mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới.
Năm 1988, theo quan điểm của Hội đồng Quản trị logistics Hoa Kỳ (CSCMP) thì: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan, từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”. Năm 1999, theo như những gì đã trình bày trong cuốn giáo trình “Logistics and Supply Chain Management” của Trường Đại học Hàng hải Thế giới thì logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Năm 2001, Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Hoa Kỳ đưa ra một khái niệm chính xác và toàn diện. Theo đó, “Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Tới năm 2003, tại Việt Nam, GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân đã định nghĩa trong tài liệu “Logistics - Những vấn đề cơ bản” như sau: “Logistics là quá trình tối ưu hóa các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Tổng kết một cách dễ hiểu, logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động hay các dịch vụ liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao gồm các công việc liên quan đến vận tải, kho bãi, theo dõi sản xuất, thủ tục phân phối, hải quan, dịch vụ chuẩn bị chứng từ … nhằm kiểm soát dòng lưu chuyển thông tin, lưu chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Khái niệm về dịch vụ logistics đường biển Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, khái niệm về dịch vụ logistics không ngừng thay đổi và phát triển theo nhiều hướng. Khái niệm về dịch vụ logistics được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Nhóm định nghĩa hẹp cho rằng: dịch vụ logistics chủ yếu dừng lại ở các dịch vụ liên quan đến hàng hóa.
Tiêu biển nhất là khái niệm logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005, và được phiên âm theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”. Điều 233 Luật thương mại nói rằng: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” Nhóm định nghĩa rộng gắn logistics với 2 giai đoạn cụ thể: quá trình nhập nguyên vật liệu đầu vào và hàng hóa được cung ứng đến tay người tiêu dùng. Nhóm định nghĩa rộng phân định rõ ràng vai trò của từng nhà cung cấp các dịch vụ đơn lẻ như: dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận, dịch vụ khai hải quan, dịch vụ tư vấn pháp lý, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, dịch vụ phân phối hàng hóa,. Như vậy, xét theo nhóm định nghĩa rộng, có thể hiểu dịch vụ logistics bằng đường biển là một trong những loại hình dịch vụ logistics phổ biến, theo đó các tổ chức kinh doanh dịch vụ này sẽ thực hiện một hoặc nhiều công việc liên quan đến việc giao nhận hàng hóa bằng đường biển giữa các quốc gia với nhau.
Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển có thể sử dụng cơ sở hạ tầng của họ hoặc thuê ngoài từ các bên thứ ba để hoàn thành những công việc theo yêu cầu của khách hàng, bao gồm: thủ tục hải quan, cân hàng và đóng gói, lưu kho, liên hệ hãng vận tải để đặt chỗ, thuê container … 2. Đặc điểm và vai trò của dịch vụ logistics bằng đường biển 2. Đặc điểm dịch vụ logistics bằng đường biển Dịch vụ logistics bằng đường biển là một bộ phận của dịch vụ nói chung và dịch vụ logistics nói riêng, nên nó bao gồm tất cả đặc điểm cơ bản sau: • Thứ nhất, áp dụng đối với loại hàng hóa mang tính thương mại, thường phải vận chuyển ra nước ngoài có thủ tục phức tạp - hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu. • Thứ hai, chủ thể tham gia dịch vụ logistics bao gồm bên cung ứng dịch vụ và khách hàng sử dụng dịch vụ, theo đó dịch vụ logistics phải được cung ứng bởi thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics.
Ngoài ra trong quá trình cung ứng dịch vụ, họ cần phải tuân thủ các quy định về pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics, đảm bảo đáp ứng tất cả các điều kiện về trang thiết bị, phương tiện và các công cụ cần thiết; đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cho hàng hóa và yêu cầu kỹ thuật hậu cần. Phía khách hàng là các đối tượng có hàng hóa cần xuất - 16 nhập khẩu, hoặc cũng có thể là các hãng vận tải, nhà cung cấp dịch vụ logistics khác; không nhất thiết phải là thương nhân, miễn là họ có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics. • Thứ ba, là bước phát triển cao hơn và hoàn chỉnh hơn của các dịch vụ liên quan đến hàng hóa như vận tải, đóng gói bao bì, giao nhận, lưu kho … Dịch vụ logistics rất đa dạng và phức tạp, bởi thương nhân dịch vụ logistics sẽ thực hiện quy trình theo một chuỗi các dịch vụ từ khâu cung ứng hàng hóa, sản xuất và phân phối cho đến tiêu dùng. Nếu doanh nghiệp logistics chỉ thực hiện một khâu trong toàn bộ các bước trên thì đó chưa gọi là dịch vụ logistics.
Vì thế, nó là loại dịch vụ có tính hoàn thiện cao, mang tính thực hiện liên hoàn, gồm nhiều hoạt động đơn lẻ tương tác và hỗ trợ cho nhau nhằm vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ một cách nhanh chóng, an toàn và hiệu quả nhất. Dịch vụ logistics cũng có tính liên kết cao, bởi nó liên quan đến nhiều bên trong và ngoài doanh nghiệp, như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng, cơ quan hải quan, cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức quốc tế và khu vực… • Thứ tư, là một quá trình - không phải là sản phẩm vật chất cụ thể. Điều này có nghĩa, dịch vụ logistics mang tính vô hình, không thể lưu trữ và tách rời như sản phẩm vật chất thông thường. Thay vào đó, dịch vụ logistics được xác định bởi các trải nghiệm, tương tác và cảm xúc của khách hàng.
Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ logistics thường xuyên xảy ra tại cùng một thời điểm, và không thể lưu trữ để sử dụng lại. Trong quá trình này, khách hàng cảm nhận và đánh giá dịch vụ logistics dựa trên các yếu tố như sự chuyên nghiệp, độ tin cậy, quy trình cung ứng và tương tác với nhân viên cung ứng dịch vụ. • Thứ năm, dựa trên các điều kiện đã được thỏa thuận trong hợp đồng ký kết, theo đó bên cung ứng dịch vụ không nhất thiết phải thực hiện tất cả các khâu trong quá trình vận chuyển hàng hóa đến đích đến mà chỉ cần thực hiện một hoặc nhiều công việc trong quá trình đó. Đồng nghĩa, họ chỉ chịu trách nhiệm ở một hoặc nhiều công việc mà mình đảm nhiệm, không phải chịu toàn bộ trách nhiệm trong quá trình vận chuyển.
Trách nhiệm pháp lý được giới hạn theo điều kiện hợp đồng. Họ cũng không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi được hưởng của khách hàng về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.