Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ logistics và pháp luật về dịch vụ logistics. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về dịch vụ logistics tại Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay. 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 1.
Khái quát chung về dịch vụ logistics 1. Khái niệm dịch vụ logistics Trên thế giới, dịch vụ logistics đã xuất hiện từ rất lâu kể từ khi con ngƣời biết tích trữ, phân chia lƣơng thực, biết trao đổi, vận chuyển các sản phẩm mình làm ra. Tuy nhiên, thuật ngữ logistics mới đƣợc sử dụng trong vài thế kỷ gần đây. Ban đầu, logistics đƣợc sử dụng nhƣ một từ chuyên môn trong quân đội, đƣợc hiểu với nghĩa là công tác hậu cận – lƣu trữ, vận chuyển, cung cấp kịp thời quân trang, quân dụng lƣơng thực cho các đội quân tham chiến.
Nhà lãnh đạo lỗi lạc Napoleon đã từng nói rằng: “Logistics là hoạt động dùng để duy trì lực lƣợng quân đội” và cũng chính ông đã từng chỉ ra rằng: “Kẻ nghiệp dƣ bàn về chiến thuật, ngƣời chuyên nghiệp bàn về Logistics”. Ngành dịch vụ Logistics đã đƣợc các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi, đặc biệt qua hai cuộc Đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai, nhằm di chuyển toàn bộ lực lƣợng của quân đội, với số lƣợng vô cùng lớn nhân lực và vũ khí, đảm bảo cho lực lƣợng tham chiến. Mức độ hiệu quả của nó đƣợc đánh giá rất cao, có hiệu quả tốt và ảnh hƣởng lớn đến sự thành công, thất bại trên chiến trƣờng. Tháng 6 năm 1944, nhờ có khâu chuẩn bị chu đáo, nỗ lực của hậu cần, quy mô phƣơng tiện hậu cần đƣợc triển khai cụ thể, nhanh chóng đã đƣa đến cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng Normandie.
Sau đó, cùng với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khi khối lƣợng hàng hóa và sản phẩm vật chất đƣợc sản xuất ra ngày càng nhiều mà khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa 12 quá trình lƣu chuyển nguyên nhiên liệu và bán thành phẩm… từ đó logistics đƣợc áp dụng sang cả lĩnh vực kinh tế, lan truyền khắp các quốc gia trên thế giới và trở thành thuật ngữ chuyên ngành để chỉ một hoạt động thƣơng mại đặc thù. Cho đến nay, logistics đã chứng minh đƣợc tầm quan trọng đối với nền kinh tế, trở thành một hoạt động không thể thiếu đặc biệt là trong giao thƣơng quốc tế. Đến nay, vẫn chƣa có một định nghĩa nào thống nhất về ngành dịch vụ logistics. Hiện có rất nhiều cách định nghĩa về logistics, đƣợc xây dựng dựa trên từng góc độ và mục đích nghiên cứu khác nhau về logistics, tuy nhiên, có thể thấy logistics đƣợc hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng thì logistics đƣợc hiểu nhƣ là một quá trình hoạt động có sự tác động từ giai đoạn đầu sản xuất cho đến giai đoạn phân phối hàng hóa tới tay của ngƣời tiêu dùng, trong đó có một khái niệm đƣợc xem là tiêu biểu, phổ biến nhất và đƣợc nhiều ngƣời ghi nhận cho đến nay: Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách chặt chẽ, có hiệu quả về mặt chi phí lƣu chuyển và dự trữ nguồn nguyên liệu, bán thành phẩm và sử dụng thành phẩm, cùng những thông tin có liên quan đến quá trình sản xuất từ điểm đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng, nhằm mục đích đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng [13]. Theo tài liệu của Liên hợp quốc (UNESCAP): Logistics đƣợc hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển và lƣu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Theo Hội đồng chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng Hoa kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các thủ tục cho việc vận chuyển hiệu quả và lƣu trữ hàng hóa bao gồm cả 13 các dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ cho các mục đích phù hợp với yêu cầu của khách hàng và bao gồm đầu vào, đầu ra, chuyển động bên trong và bên ngoài. Theo nghĩa hẹp thì logistics đƣợc hiểu nhƣ là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lƣu thông hàng hóa, và hoạt động này đƣợc cho là có mối quan hệ gắn bó với các dịch vụ thƣơng mại cụ thể khác.
Có thể tiếp cận logistics trong một số lĩnh vực cụ thể nhƣ trong lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực kinh doanh và một số dịch vụ liên quan đến logistics. Trong lĩnh vực sản xuất, logistics không phải là quá trình vận tải mà là thông qua các quy trình không phát sinh giá trị gia tăng để sắp xếp công việc hợp lí hơn và kiểm soát việc giao hàng. Hoạt động này thƣờng đƣợc thực hiện trong các nhà máy hiện đang vận hành hoặc nhà máy mới. Qúa trình hoạt động của các nhà máy đang vận hành luôn có sự biến đổi dẫn đến việc thay đổi máy móc thiết bị tạo cơ hội hoàn thiện hệ thống logistics trong hoạt động sản xuất.
Logistics trong hoạt động sản xuất cung cấp phƣơng tiện đáp ứng yêu cầu của khách hàng và đạt hiệu quả sử dụng nguồn vốn [9]. Trong lĩnh vực kinh doanh, xuất phát từ dịch vụ cung ứng vật tƣ và vận tải hàng hải ngày càng phức tạp và có tính toàn cầu từ những năm 50 của thế kỷ XXI, hoạt động logistics bắt đầu xuất hiện. Định nghĩa logistics trong hoạt động thƣơng mại có thể hiểu là dịch vụ cung ứng hàng hóa, đúng chất lƣợng, đúng thời gian, địa điểm và đúng giá đã niêm yết trƣớc đó đồng thời là khoa học về quy trình và nó liên quan mật thiết đến các ngành kinh tế [9]. Trong kinh doanh thƣơng mại, dịch vụ logistics có thể đƣợc diễn ra ở trong nƣớc hoặc quốc tế bao gồm hoạt động giao hàng và kho bãi từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ thành phẩm.
Nhìn chung sẽ có hai hình thức logictics phổ biến nhất: Thông qua mạng lƣới vận tải và các điểm kho bãi, điều phối các nguồn nhân lực để thực hiện một số dự án một cách ổn định, an toàn. 14 Các dịch vụ trong logistics đang đƣợc thực hiện phổ biến bao gồm: Qúa trình vận tải (Đƣờng sắt, đƣờng bộ, đƣờng biển, hàng không), bốc xếp container chở hàng, cho tàu vào cảng, logistics quốc phòng (hậu cần), phân phối lƣơng thực, logistics thông tin, tiếp thị, y tế, quản lý chuỗi cung ứng dịch vụ, đóng gói bao bì, nhãn mác số hiệu của hàng hóa… Theo quan điểm của WTO [29], logistics đƣợc định nghĩa là chuỗi cung ứng dịch vụ, bao gồm lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự dịch chuyển và lƣu kho hàng hoá, dịch vụ và thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Nhƣ vậy có thể thấy theo hƣớng tiếp cận mới của WTO thì có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệm dịch vụ phân phối và khái niệm dịch vụ logistics, mà trong khái niệm về dịch vụ logistics truyền thống trƣớc đây lại bao gồm các dịch vụ vận tải, kho bãi, giao nhận, các dịch vụ giá trị gia tăng của bên thứ ba (nhƣ làm việc theo yêu cầu của khách hàng). Từ đó nhận thấy, dịch vụ logistics ngày càng phát triển gắn bó chặt chẽ với dịch vụ vận tải và giao nhận hàng hóa.
Các học giả thƣờng phân tích, đánh giá dịch vụ logistics liên quan đến vận tải. Ở Hoa Kỳ, cụ thể là các trƣờng đại học có chuyên ngành về logistics, thƣờng có môn học “Vận tải, logistics và pháp luật” hay “Pháp luật về vận tải và logistics” theo giáo trình đƣợc biên soạn bởi giáo sƣ nổi tiếng của Augello [28]. Ở Việt Nam, thuật ngữ logistics mới đƣợc sử dụng trong những năm gần đây, do vậy nó vẫn còn phần nào xa lạ và mới mẻ. Luật Thƣơng mại 2005 là văn bản đầu tiên ghi nhận thuật ngữ dịch vụ logistics và quy định tƣơng đối khái quát về dịch vụ logistics.
Theo quy định tại Điều 233 Luật Thƣơng mại năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019: Dịch vụ logistics là hoạt động thƣơng mại, theo đó thƣơng nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận 15 chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc sử dụng các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá theo sự thống nhất thỏa thuận trƣớc với khách hàng để hƣởng thù lao. Từ hoạt động thực tiễn và quy định của pháp luật có thể thấy: Dịch vụ logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các yếu tố đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Về mặt bản chất đây là dịch vụ bổ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dịch vụ logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận và các dịch vụ liên quan đến hàng hóa.
Nếu nhƣ trƣớc đây, ngƣời cung cấp dịch vụ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc nhƣ đóng gói, thuê phƣơng tiện, vận chuyển, lƣu kho… thì khi có logistics họ có thể cung cấp dịch vụ trọn gói từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra của sản phẩm. Từ vai trò là ngƣời đƣợc ủy quyền, bên cung cấp dịch vụ trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trƣớc các nguồn luật điều chỉnh. Với tình hình hiện nay, để thực hiện nghiệp vụ của mình, ngƣời giao nhận thành phẩm phải quản lý cả một hệ thống từ việc giao nhận tới việc vận tải, cung ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất, bảo quản hàng hóa, phân phối hàng hóa, theo dõi kiểm tra thƣờng xuyên chất lƣợng. Từ đó, ngƣời giao nhận dịch vụ vận tải này trở thành ngƣời cung cấp dịch vụ logistics [20].
Đặc điểm của dịch vụ logistics - Đặc điểm về chủ thể trong mối quan hệ dịch vụ logistics Chủ thể tham gia vào dịch vụ logistics bao gồm thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng sử dụng dịch vụ logistics. + Dịch vụ logistics do thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện một cách chuyên nghiệp.