Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (mã số: 96 20 115) với đề tài "Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long", do nghiên cứu sinh Lê Ngọc Danh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Thị Thanh Trúc và TS. Trần Minh Hải tại Trường Đại học Cần Thơ (năm 2023).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu như hiện tượng xâm nhập mặn, nhiệt độ tăng cao và mưa trái mùa, dẫn đến tình trạng dịch bệnh bùng phát trên tôm nuôi, khiến khoảng 22,35% nông dân nuôi tôm – lúa bị thua lỗ (Tuấn, 2018). Trong bối cảnh đó, đối tượng cua biển (Scylla paramamosain) với đặc tính sinh học tăng trưởng nhanh, khả năng thích nghi cao với biến đổi môi trường, sức đề kháng tốt, phổ thức ăn rộng, giá trị kinh tế cao và dễ bảo quản sau thu hoạch đã trở thành đối tượng được nông dân lựa chọn để nuôi ghép với tôm (Johnston & Keenan, 1999; Long, 2019b; Nghi và cộng sự, 2015a). Tính đến năm 2020, diện tích nuôi cua biển toàn vùng đạt 465 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 67–68 nghìn tấn với năng suất bình quân 152 kg/ha, tập trung chủ yếu tại ba tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.
Mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế bước đầu cho nông hộ (lợi nhuận trung bình đạt khoảng 30 triệu đồng/ha/vụ), ngành hàng cua biển ĐBSCL đang đối mặt với nhiều rào cản:
- Chưa có quy hoạch vùng nuôi cụ thể và tập trung;
- Nguồn con giống chưa qua kiểm dịch đồng bộ;
- Thiếu liên kết ngang và liên kết dọc giữa các tác nhân;
- Chưa xây dựng được thương hiệu cua biển ĐBSCL mang tính vùng;
- Thiếu bộ tiêu chuẩn chất lượng thống nhất trong khâu sản xuất;
- Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ ở dạng tươi sống, chưa đa dạng hóa sản phẩm chế biến;
- Thời gian chờ và lưu thông kéo dài làm giảm chất lượng thịt và tăng tỷ lệ hao hụt do cua chết;
- Chuỗi cung ứng chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa, kênh xuất khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ và chủ yếu là xuất khẩu cua gạch sống.
Khoảng trống nghiên cứu lớn được xác định là: Các công trình trước đây chỉ tập trung vào kỹ thuật nuôi hoặc phân tích tài chính đơn lẻ tại một số khâu, chưa có nghiên cứu nào phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển một cách toàn diện, tích hợp đầy đủ các khía cạnh: phân tích tài chính chi phí - lợi nhuận (CRA), đánh giá chất lượng sản phẩm trong sản xuất, đo lường thời gian chờ (latency time), hạch toán chi phí logistics, nhận diện rủi ro chuỗi và phân tích hành vi ý định tiêu dùng sản phẩm chế biến.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL nhằm nâng cao tính kinh tế của chuỗi, góp phần đáp ứng đúng thời gian, địa điểm, chất lượng và đối tượng tiêu dùng với mức giá cạnh tranh.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Xây dựng khung lý thuyết phân tích chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL.
- Mục tiêu 2: Phân tích kết cấu và sự vận hành của chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL.
- Mục tiêu 3: Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL.
- Mục tiêu 4: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế cho ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Tình hình nuôi cua biển vùng ĐBSCL giai đoạn 2015–2020 diễn ra như thế nào?
- Thực trạng sản xuất, tiêu thụ và phân phối cua biển vùng ĐBSCL ra sao?
- Cấu trúc và vận hành chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển được thiết lập như thế nào?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định mua cua biển chế biến của người tiêu dùng tại Việt Nam?
- Các tác nhân nào tham gia vào chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL?
- Cơ cấu phân bổ lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng diễn ra như thế nào?
- Những giải pháp nào giúp nâng cao tính kinh tế của chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL?
- Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết H1: Các yếu tố thuộc khâu sản xuất (kinh nghiệm nuôi, tập huấn kỹ thuật, số lần thu hoạch, quyết định bắt cua Y4, số lượng bẫy cua, thời gian nuôi, quy trình cải tạo ao, chất lượng con giống) có ảnh hưởng đến chất lượng cua biển nuôi tại ĐBSCL.
- Giả thuyết H2: Các đặc điểm cá nhân và nhận thức người tiêu dùng (độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập, nhận thức xã hội, nhận thức về sự tiện lợi, nhận thức về sức khỏe, nhận thức về giá cả, nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm) có ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm cua biển chế biến.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển (Scylla paramamosain) vùng ĐBSCL, bao gồm các tác nhân: cung cấp đầu vào (trại giống, đại lý vật tư), sản xuất (nông hộ nuôi cua), phân phối trung gian (thương lái, chủ vựa, người bán sỉ, người bán lẻ), người tiêu dùng cá nhân và các tác nhân hỗ trợ (chính quyền, cán bộ khuyến nông, ngân hàng).
- Phạm vi không gian:
- Khâu cung cấp đầu vào và sản xuất nông hộ: Khảo sát tại 3 tỉnh có diện tích và sản lượng cua lớn nhất vùng ĐBSCL là Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.
- Khâu phân phối và tiêu thụ: Khảo sát các điểm thu mua, chợ đầu mối và thị trường tiêu thụ tại Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh (bao gồm chợ đầu mối Bình Điền) và TP. Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2012–2020 (tập trung 2016–2020). Số liệu sơ cấp khâu sản xuất và cung ứng đầu vào thu thập cho vụ nuôi năm 2018; số liệu sơ cấp của các tác nhân phân phối và người tiêu dùng thu thập trong năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
Tác giả đã hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung:
- Lý thuyết chuỗi cung ứng và cấu trúc chuỗi: Tiếp cận các mô hình chuỗi cung ứng của Lambert (2008), Stadtler và cộng sự (2015), Werner (2013), Sunil Chopra và cộng sự (2013), Betts & Tadisina (2009). Cấu trúc vật lý của chuỗi gồm cấu trúc ngang, cấu trúc dọc, chuỗi hội tụ và chuỗi phân kỳ (Mamun, 2011; Ivanov, 2018; Croxton và cộng sự, 2001). Ba dòng chảy cốt lõi gồm dòng sản phẩm, dòng thông tin và dòng tài chính theo Christopher (2010, 2011).
- Chuỗi giá trị và phân tích tài chính: Tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị của Porter (2008), Kaplinsky & Morris (2000), Feller và cộng sự (2006). Phương pháp phân tích chi phí và lợi nhuận (CRA) được kế thừa từ Bourlakis & Weightman (2008), Chandra & Grabis (2007), Mamun (2011), Concina (2014) và Lộc (2006, 2009).
- Chất lượng sản phẩm thủy sản: Quản trị chất lượng toàn diện (TQM) theo Feigenbaum (1951), Ishikawa & Loftus (1990). Các thuộc tính chất lượng thủy sản được xác định dựa trên tiêu chuẩn Codex (FAO–WHO, 2006), tiêu chuẩn VietGAP (Quyết định 3824/QĐ-BNN-TCTS) và các nghiên cứu của Boyd & Tucker (2012), Robertson (1971), Salakpetch (2007), Varzakas & Tzia (2015).
- Thời gian chờ, logistics và rủi ro chuỗi cung ứng: Đo lường hiệu suất thời gian chờ và mô hình Just-in-Time (JIT) theo Aramyan (2007), Betts & Tadisina (2009), Dore (2000), Panchal và cộng sự (2017), Ralahallo (2021). Khung phân tích chi phí logistics theo Nyhuis & Wiendahl (2008), Kovács & Spens (2007), Bramel (1997). Nhận diện rủi ro chuỗi cung ứng thủy sản từ Anggrahini và cộng sự (2015), Lin & Wu (2016), Love và cộng sự (2021).
- Nghiên cứu chuỗi cung ứng thủy sản và cua biển: Tổng hợp kết quả thực nghiệm từ các tác giả quốc tế và Việt Nam: Abduho & Madjos (2018), Belton và cộng sự (2011), Coronado Mondragon và cộng sự (2021), Jahan & Islam (2016), Mojammel và cộng sự (2016), Patchanee và cộng sự (2017), Quagrainie và cộng sự (2007), Shamsuddoha (2007), Thái (2013), Thu (2015), Vân (2010), Vi & Anh (2010), Xuân & Thu (2012), Hiền và cộng sự (2015), Lễnh (2018), Sinh (2012), Thành (2010), Lorenzo và cộng sự (2021), Phương & Hải (2009), Quế (2005a).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Đa số các công trình trước đây về thủy sản chỉ giải quyết các lát cắt riêng lẻ như nâng cao kỹ thuật nuôi, quản lý dịch bệnh hoặc hạch toán lợi nhuận đơn thuần. Chưa có nghiên cứu nào xem xét chuỗi cung ứng cua biển dưới góc độ tích hợp kinh tế - kỹ thuật - vận hành logistics. Luận án chọn giải quyết trọn vẹn chuỗi mắt xích từ đầu vào, sản xuất, phân phối trung gian, logistics, thời gian chờ đến hành vi người tiêu dùng cuối cùng tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung phân tích lý thuyết
Luận án kết hợp mô hình chuỗi cung ứng của Lambert (2008) và Stadtler và cộng sự (2015) với lý thuyết quản trị logistics của Nyhuis & Wiendahl (2008). Khung phân tích bao gồm:
- Phân tích cấu trúc vật lý và mạng lưới tác nhân (dòng thuận - dòng nghịch);
- Phân tích tài chính chi phí - doanh thu - lợi nhuận (CRA);
- Phân tích các yếu tố kỹ thuật trong sản xuất ảnh hưởng đến chất lượng cua;
- Phân tích thời gian chờ (latency time) và tỷ lệ hao hụt theo từng kênh phân phối;
- Hạch toán cấu trúc chi phí logistics tại từng mắt xích;
- Phân tích rủi ro thị trường và tự nhiên (ảnh hưởng của chu kỳ thủy triều/con nước);
- Mô hình hành vi lựa chọn và ý định mua sản phẩm chế biến của người tiêu dùng;
- Phân tích ma trận SWOT để xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế chuỗi.
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
- Nghiên cứu định tính: Phương pháp nghiên cứu khám phá thông qua phỏng vấn sâu chuyên gia, nhà quản lý nông nghiệp địa phương, thảo luận nhóm với nông dân và các tác nhân trung gian nhằm hiệu chỉnh bảng câu hỏi, nhận diện quy trình phân loại cua và xác định các điểm nghẽn trong chuỗi.
- Nghiên cứu định lượng:
- Phân tích tài chính (CRA): Hạch toán chi phí đầu tư, doanh thu, lợi nhuận và tỷ lệ phân bổ lợi nhuận tính trên 1 kg sản phẩm và tính trên quy mô năm của từng tác nhân.
- Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến: Xác định các yếu tố trong khâu sản xuất ảnh hưởng đến tỷ lệ đạt chất lượng của cua biển.
- Kiểm định Cronbach's Alpha, Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và Hồi quy Binary Logistic: Xác định các yếu tố nhân khẩu học và nhận thức ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm cua biển chế biến của người tiêu dùng đô thị.
- Thống kê mô tả và so sánh: Phân tích thời gian vận chuyển, chi phí logistics và hao hụt theo mùa vụ và con nước.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám thống kê, báo cáo của Tổng cục Thủy sản, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Sở NN&PTNT các tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa với tổng cỡ mẫu là 560 quan sát, phân bổ theo các nhóm tác nhân như sau:
| Nhóm tác nhân |
Địa bàn khảo sát |
Số lượng mẫu (n) |
| Cung cấp đầu vào |
Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau (trại giống, vật tư) |
30 |
| Sản xuất (Nông hộ) |
Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau (mô hình cua - tôm) |
270 |
| Thương lái thu mua |
Thu mua tại địa bàn 3 tỉnh nghiên cứu |
45 |
| Chủ vựa cua |
Các vựa tập kết tại Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau |
30 |
| Người bán sỉ |
Chợ đầu mối tại Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội |
30 |
| Người bán lẻ |
Chợ truyền thống, siêu thị (Cần Thơ, HCM, Hà Nội) |
45 |
| Người tiêu dùng |
Người tiêu dùng cá nhân tại Cần Thơ, HCM, Hà Nội |
110 |
| Tổng cộng |
|
560 |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 thiết lập bức tranh tổng thể về ngành thủy sản Việt Nam và vị thế của nghề nuôi cua biển vùng ĐBSCL. Tác giả luận giải tính cấp thiết của đề tài khi ngành tôm gặp khó khăn do dịch bệnh và biến đổi khí hậu, dẫn đến xu hướng nuôi ghép cua biển – đối tượng có sức chịu đựng cao và giá trị kinh tế lớn. Chương này xác định rõ mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, 7 câu hỏi nghiên cứu, 2 nhóm giả thuyết khoa học, đối tượng, phạm vi không gian - thời gian, phương pháp luận tiếp cận và cấu trúc 5 chương của luận án.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng, cấu trúc chuỗi (chiều ngang, chiều dọc, hội tụ, phân kỳ) và các dòng chảy vật chất, thông tin, tài chính. Tác giả làm rõ các đặc thù của chuỗi cung ứng cua biển: sản xuất phân tán với số lượng nông dân lớn, tính mùa vụ cao, sản phẩm tươi sống khó bảo quản, rủi ro dịch bệnh và hao hụt trong quá trình vận chuyển. Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu thực nghiệm về chuỗi cung ứng thủy sản trên thế giới và tại Việt Nam, từ đó chỉ ra các điểm nghẽn lý luận và thực tiễn để định hình khung phân tích cho luận án.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 chi tiết hóa tiến trình nghiên cứu từ nghiên cứu khám phá đến nghiên cứu định lượng chính thức. Tác giả trình bày phương pháp chọn vùng nghiên cứu đại diện (Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau), kỹ thuật xác định cỡ mẫu và chọn mẫu theo mạng liên hệ với quy mô 560 tác nhân. Chương này xác lập các công thức phân tích kinh tế chuỗi, đo lường chi phí logistics, hạch toán thời gian chờ, xác định mô hình hồi quy đa biến cho chất lượng sản xuất, mô hình Binary Logistic cho hành vi tiêu dùng và quy trình xây dựng ma trận SWOT dựa trên ý kiến chuyên gia.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ
Giai đoạn 2016–2020, diện tích và sản lượng cua biển tại ĐBSCL tăng trưởng liên tục, đạt 465 nghìn ha và 68 nghìn tấn vào năm 2020. Ba tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau chiếm tỷ trọng lớn nhất về diện tích và sản lượng toàn vùng. Năng suất bình quân đạt 152 kg/ha. Thị trường tiêu thụ nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo, tập trung tại các đô thị lớn (Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội). Xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 18% tổng sản lượng và chủ yếu là cua gạch tươi sống xuất sang thị trường Trung Quốc và một số nước lân cận.
2. Phân loại sản phẩm và tiêu chuẩn chất lượng trên thị trường
Thị trường thu mua tại ĐBSCL phân chia cua thương phẩm thành 4 nhóm chất lượng chính:
| Loại cua |
Mô tả đặc điểm |
Kích thước / Khối lượng |
Tiêu chuẩn chất lượng |
| Cua Y1 |
Cua đực (cua thịt), càng to, yếm hình chữ Y |
> 270 g/con |
Đủ bộ phận, không bám bẩn/ký sinh trùng, phản xạ tốt, tỷ lệ thịt đầy > 70% |
| Cua Y4 |
Cua đực (cua thịt), càng to, yếm hình chữ Y |
180 – 265 g/con |
Đủ bộ phận, không bám bẩn/ký sinh trùng, phản xạ tốt, tỷ lệ thịt đầy > 70% |
| Cua Gạch |
Cua cái mang trứng |
> 200 g/con |
Đủ bộ phận, không bám bẩn/ký sinh trùng, phản xạ tốt, trứng màu vàng sậm |
| Cua Xô |
Cua thịt gãy càng/que, mềm vỏ, ốp thịt |
Đa dạng kích thước |
Không bám bẩn/ký sinh trùng, phản xạ tốt, thịt thân thấp, lỗi bộ phận |
3. Cấu trúc kênh phân phối và phân tích kinh tế chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng cua biển ĐBSCL hình thành 6 kênh phân phối chính (1 kênh xuất khẩu và 5 kênh nội địa):
- Kênh 1 (Kênh xuất khẩu - 18% sản lượng): Nông hộ → Thương lái → Vựa thu mua → Nhà xuất khẩu (Cua gạch).
- Kênh 2 (Kênh phân phối sỉ liên tỉnh): Nông hộ → Thương lái → Vựa → Bán sỉ chợ đầu mối (TP.HCM, Hà Nội) → Bán lẻ → Người tiêu dùng.
- Kênh 3: Nông hộ → Vựa địa phương → Bán sỉ chợ đầu mối → Bán lẻ → Người tiêu dùng.
- Kênh 4: Nông hộ → Thương lái → Bán lẻ chợ truyền thống → Người tiêu dùng.
- Kênh 5 (Kênh ngắn/tiêu thụ tại chỗ): Nông hộ → Bán lẻ/Nhà hàng địa phương → Người tiêu dùng.
- Kênh 6: Nông hộ → Trực tiếp người tiêu dùng (tỷ trọng nhỏ).
Kết quả phân tích tài chính và phân phối lợi nhuận:
- Xét trên 1 kg cua tươi không tính dây trói: Nông hộ nuôi cua nhận được tỷ lệ phân bổ lợi nhuận biên trên đơn vị sản phẩm cao nhất trong chuỗi.
- Xét trên tổng lợi nhuận thu được trong một năm: Chủ vựa đạt mức lợi nhuận cao nhất (bình quân 256 triệu đồng/năm), tiếp theo là thương lái (237 triệu đồng/năm), trong khi nông hộ nuôi cua đạt mức tích lũy thấp nhất (trung bình 3,2 triệu đồng/1.000 m²/năm).
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cua biển ở khâu sản xuất
Kết quả hồi quy đa biến chỉ ra 3 yếu tố kỹ thuật có ý nghĩa thống kê tác động trực tiếp đến tỷ lệ đạt chất lượng của cua biển thương phẩm:
- Quyết định bắt cua Y4: Thu hoạch khi cua đạt kích cỡ và độ chắc thịt tối ưu làm tăng tỷ lệ cua đạt chuẩn loại 1 (Y1, Y4, Gạch).
- Số lượng bẫy cua (lú): Mật độ đặt bẫy hợp lý giúp giảm va đập, hạn chế gãy càng, gãy que khi thu hoạch.
- Thời gian nuôi: Đảm bảo đủ chu kỳ sinh trưởng giúp cua hoàn tất quá trình lột xác và tích lũy đầy đủ khối lượng cơ thịt trong thân.
5. Phân tích thời gian chờ (Latency time) và tỷ lệ hao hụt
Thời gian chờ trung bình của cua biển tươi từ khi thu hoạch đến khi tới tay người tiêu dùng dao động từ 45 đến 107 giờ.
- Kênh 1 (xuất khẩu) có thời gian chờ dài nhất do qua nhiều công đoạn thu gom, lưu kho, kiểm định và vận chuyển đường dài.
- Kênh 5 có thời gian chờ ngắn nhất.
- Thời gian chờ kéo dài làm tăng tỷ lệ hao hụt trọng lượng (mất nước) và tăng khối lượng cua chết (làm chuyển cấp từ cua loại 1 sang cua xô hoặc loại bỏ hoàn toàn), làm giảm giá trị thương phẩm.
6. Phân tích chi phí logistics
- Đối với nông hộ: Chi phí lao động thu hoạch và sơ chế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí logistics, tiếp theo là chi phí hao hụt và chi phí khấu hao dụng cụ.
- Đối với các tác nhân trung gian (thương lái, vựa, bán sỉ, bán lẻ): Chi phí lao động vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất, tuy nhiên chi phí hao hụt do cua chết và giảm chất lượng trong quá trình lưu kho, vận chuyển cao hơn rất nhiều so với nông hộ.
7. Phân tích rủi ro trong chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng chịu rủi ro từ 5 nhóm yếu tố: tự nhiên, thị trường, dịch bệnh, thể chế chính sách và quản lý. Trong đó, rủi ro thời tiết và rủi ro biến động giá thị trường được đánh giá ở mức cao nhất.
- Quy luật con nước: Sản lượng thu hoạch và giá cua biển phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ thủy triều trong tháng. Giá cua biển tăng cao vào hai đợt con nước: từ ngày 21 đến 26 và từ ngày 5 đến 10 âm lịch hàng tháng.
8. Hành vi tiêu dùng và ý định mua sản phẩm cua biển chế biến
Khảo sát 110 người tiêu dùng tại Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội cho thấy người tiêu dùng chủ yếu quen thuộc với cua tươi sống. Phân tích EFA và hồi quy Binary Logistic xác định 5 nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến ý định mua các sản phẩm cua biển chế biến sẵn (đóng hộp, tách thịt, sơ chế đông lạnh):
- Thu nhập của người tiêu dùng;
- Nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP);
- Nhận thức về giá trị sức khỏe và dinh dưỡng;
- Nhận thức về sự tiện lợi trong chế biến;
- Nhận thức xã hội và xu hướng tiêu dùng hiện đại.
9. Ma trận SWOT và 4 giải pháp toàn chuỗi
Dựa trên phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và tham vấn ý kiến chuyên gia, luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp ưu tiên cho toàn chuỗi:
- Giải pháp 1: Tận dụng nhu cầu tiêu thụ cua biển cao trên thị trường để mở rộng quy mô sản xuất có quy hoạch, kiểm soát chất lượng con giống và quy trình nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Giải pháp 2: Nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cua biển, thúc đẩy chứng nhận an toàn thực phẩm để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng.
- Giải pháp 3: Tận dụng phát triển hạ tầng giao thông và logistics lạnh để rút ngắn thời gian chờ của cua biển trong chuỗi cung ứng ĐBSCL.
- Giải pháp 4: Tăng cường năng lực kiểm soát môi trường nuôi và chất lượng vật tư đầu vào, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và nâng cao khả năng cạnh tranh với các sản phẩm thủy sản thay thế.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Chương 5 tổng kết các kết quả nghiên cứu đối chiếu với các giả thuyết ban đầu, khẳng định tính khả thi của các mô hình phân tích kinh tế chuỗi và đề xuất hệ thống giải pháp chi tiết cho từng nhóm tác nhân tham gia chuỗi.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận
- Hệ thống hóa và tích hợp khung phân tích kinh tế chuỗi cung ứng cho một ngành hàng thủy sản đặc thù (tiêu thụ tươi sống, giá trị cao), kết hợp đồng thời giữa phân tích tài chính (CRA), đánh giá kỹ thuật chất lượng sản phẩm, phân tích thời gian chờ (latency time), hạch toán chi phí logistics và quản trị rủi ro chuỗi.
- Bổ sung và kiểm định thực nghiệm các biến số kinh tế - kỹ thuật trong khâu nuôi (quyết định bắt cua Y4, số lượng bẫy lú, thời gian nuôi) tác động đến tỷ lệ chất lượng sản phẩm cua biển.
- Bổ sung và kiểm định mô hình nhận thức người tiêu dùng (thu nhập, nhận thức ATVSTP, sức khỏe, tiện lợi, xã hội) đối với ý định tiêu thụ các sản phẩm cua biển chế biến tại thị trường nội địa Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về cấu trúc 6 kênh phân phối, định mức chi phí logistics và cơ chế phân chia lợi nhuận qua từng mắt xích của ngành hàng cua biển ĐBSCL.
- Nhận diện sự bất đối xứng về lợi nhuận tích lũy hàng năm giữa nông hộ sản xuất (thấp nhất) và các chủ vựa/thương lái (cao nhất).
- Đo lường chính xác khoảng thời gian chờ (45–107 giờ) và quy luật biến động giá theo chu kỳ con nước (ngày 21–26 và 5–10 âm lịch), làm cơ sở cho việc lập kế hoạch thu hoạch và điều phối logistics.
Hệ thống kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với tác nhân cung cấp đầu vào: Quản lý và kiểm định chất lượng cua giống; chuẩn hóa quy trình ương dưỡng giống để cung cấp con giống khỏe mạnh, đồng đều kích cỡ, sạch bệnh.
- Đối với nông hộ sản xuất: Điều chỉnh kỹ thuật thu hoạch (lựa chọn đúng thời điểm bắt cua Y4, giãn mật độ bẫy lú, đảm bảo thời gian nuôi đủ tháng); cải tạo ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật; tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã để tăng sức mạnh đàm phán giá.
- Đối với tác nhân phân phối (thương lái, vựa, bán sỉ, bán lẻ): Tối ưu hóa phương tiện và cung đường vận chuyển nhằm rút ngắn thời gian chờ; áp dụng kỹ thuật giữ ẩm, làm mát phù hợp trong quá trình lưu trữ để giảm tỷ lệ cua chết và hao hụt trọng lượng; chuẩn hóa quy cách dây trói cua đảm bảo tính minh bạch thương mại.
- Đối với tác nhân chế biến và người tiêu dùng: Doanh nghiệp thủy sản cần đầu tư công nghệ chế biến sâu các sản phẩm cua đóng hộp, thịt cua tách sẵn nhằm đa dạng hóa sản phẩm, giảm áp lực tiêu thụ tươi sống; đẩy mạnh truyền thông về giá trị dinh dưỡng và tính tiện lợi của sản phẩm chế biến.
- Đối với tác nhân hỗ trợ chuỗi (Chính quyền, cơ quan quản lý nông nghiệp, ngân hàng): Quy hoạch vùng nuôi cua sinh thái tập trung gắn với bảo vệ rừng ngập mặn; hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi; đầu tư hạ tầng giao thông nông thôn và chuỗi cung ứng lạnh; xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý, thương hiệu cua biển ĐBSCL.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp đối với nông hộ nuôi cua và tác nhân cung ứng đầu vào được thu thập cho mùa vụ năm 2018, trong khi dữ liệu phân phối và tiêu dùng thu thập năm 2019; do đó các biến động thị trường đột xuất ở các giai đoạn sau chưa được phản ánh tức thời.
- Phạm vi khảo sát khâu sản xuất chỉ tập trung tại 3 tỉnh đại diện (Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau); chưa mở rộng ra toàn bộ các địa phương ven biển khác thuộc ĐBSCL như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng.
- Do chuỗi cung ứng cua biển hiện tại chủ yếu là tiêu thụ nội địa dạng tươi sống và xuất khẩu tiểu ngạch cua gạch, luận án chưa thể phân tích sâu toàn diện chuỗi cung ứng xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường xa có yêu cầu kỹ thuật khắt khe (EU, Mỹ, Nhật Bản).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu chuỗi cung ứng giá trị gia tăng đối với các sản phẩm cua biển chế biến sâu, cua lột đông lạnh và các phụ phẩm từ cua biển (vỏ cua chiết xuất chitin/chitosan).
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số và hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (Blockchain/QR code) trong quản lý dòng thông tin và an toàn thực phẩm chuỗi cung ứng cua biển.
- Đánh giá tác động dài hạn của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn cực đoan đến tính bền vững kinh tế của mô hình luân canh tôm - cua vùng ven biển.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao trong các lĩnh vực:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh trong việc tiếp cận và phân tích kinh tế chuỗi cung ứng nông - thủy sản; minh họa chi tiết cách kết hợp phương pháp hạch toán tài chính (CRA), phân tích logistics, đo lường thời gian chờ, hồi quy tuyến tính đa biến và mô hình hồi quy nhị phân (Binary Logistic).
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý ngành nông nghiệp: Cung cấp luận cứ thực chứng về cơ cấu sản xuất, các điểm nghẽn logistics và cơ chế định giá theo chu kỳ con nước để xây dựng quy hoạch nuôi trồng thủy sản, chính sách kiểm soát giống và chương trình phát triển thương hiệu cua biển cấp vùng.
- Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi cua: Cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố kỹ thuật quyết định chất lượng cua, định mức chi phí hao hụt và thị hiếu tiêu dùng cua chế biến, giúp các tác nhân định hình chiến lược sản xuất kinh doanh hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
1. Sản lượng, diện tích nuôi cua biển tại vùng ĐBSCL đạt mức bao nhiêu và tập trung ở những địa phương nào?
Tính đến năm 2020, tổng diện tích nuôi cua biển toàn vùng ĐBSCL đạt 465 nghìn ha với tổng sản lượng đạt khoảng 68 nghìn tấn (năng suất bình quân đạt 152 kg/ha). Ba địa phương có diện tích và sản lượng cua biển lớn nhất khu vực là Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.
2. Chuỗi cung ứng cua biển ĐBSCL gồm bao nhiêu kênh phân phối và kênh xuất khẩu có đặc điểm gì?
Chuỗi cung ứng gồm 6 kênh phân phối chính (1 kênh xuất khẩu và 5 kênh tiêu thụ nội địa). Kênh xuất khẩu chiếm khoảng 18% tổng sản lượng toàn chuỗi, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là cua gạch tươi sống (cua cái mang trứng có khối lượng trên 200 g/con) được vận chuyển qua các thị trường nhập khẩu như Trung Quốc và một số nước châu Á.
3. Tiêu chí phân loại cua biển thương phẩm trên thị trường vùng ĐBSCL được quy định như thế nào?
Thị trường phân chia cua biển thành 4 nhóm:
- Cua Y1: Cua đực/cua thịt, khối lượng > 270 g/con, đầy thịt (> 70%), nguyên vẹn bộ phận.
- Cua Y4: Cua đực/cua thịt, khối lượng 180 – 265 g/con, đầy thịt (> 70%), nguyên vẹn bộ phận.
- Cua Gạch: Cua cái có trứng màu vàng sậm, khối lượng > 200 g/con, nguyên vẹn bộ phận.
- Cua Xô: Cua gãy càng/que, mềm vỏ, ốp thịt, không đạt tiêu chuẩn kích thước hoặc ngoại hình.
4. Cơ cấu phân bổ lợi nhuận giữa nông hộ nuôi cua và các tác nhân trung gian có sự khác biệt ra sao?
Nếu tính trên 1 kg cua tươi không dây trói, nông hộ nuôi cua nhận được tỷ lệ phân bổ lợi nhuận biên cao nhất trong chuỗi. Tuy nhiên, nếu tính trên tổng lợi nhuận cả năm, chủ vựa thu mua đạt mức cao nhất (trung bình 256 triệu đồng/năm), tiếp theo là thương lái (237 triệu đồng/năm), trong khi nông hộ nuôi cua đạt mức thấp nhất (khoảng 3,2 triệu đồng/1.000 m²/năm).
5. Thời gian chờ trung bình trong chuỗi là bao lâu và giá cua biến động theo quy luật nào trong tháng?
Thời gian chờ trung bình của cua tươi trong chuỗi dao động từ 45 đến 107 giờ (kênh xuất khẩu có thời gian chờ dài nhất, kênh bán lẻ tại chỗ ngắn nhất). Về quy luật giá, giá cua biển biến động phụ thuộc chặt chẽ vào con nước thủy triều trong tháng âm lịch; giá cua thường đạt mức cao nhất vào hai đợt con nước: từ ngày 21 đến 26 và từ ngày 5 đến 10 âm lịch hàng tháng.
Kết luận
Luận án của tiến sĩ Lê Ngọc Danh đã giải quyết một cách có hệ thống và toàn diện bài toán kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết chuỗi cung ứng hiện đại với các công cụ phân tích định lượng thực chứng trên cỡ mẫu 560 tác nhân, luận án đã làm rõ cấu trúc 6 kênh phân phối, định lượng thời gian chờ và chi phí logistics, nhận diện các yếu tố kỹ thuật kiểm soát chất lượng cua ở khâu nuôi và các nhân tố thúc đẩy ý định tiêu dùng sản phẩm chế biến. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống 4 nhóm giải pháp ưu tiên toàn chuỗi cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc tái cơ cấu ngành hàng cua biển ĐBSCL theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, giảm thiểu rủi ro hao hụt và phát triển bền vững.