Đặt vấn đề; (ii) Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu; (iii) Phạm vi giới hạn của nghiên cứu; và (iv) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án.1 Đặt vấn đề nghiên cứu Năm 2020, Việt Nam có gần 70% dân số hoạt động trong ngành nông nghiệp và trong đó ngành thủy sản mang lại kim ngạch xuất khẩu đạt 8,6 tỷ USD tăng 13% so với năm 2019 (VASEP, 2021).Với tốc độ này thì sản lượng thủy sản tại Việt Nam sẽ đáp ứng đủ về số lượng yêu cầu các nước nhập khẩu và đồng thời cũng tiềm ẩn rủi ro như dư sản lượng do thị trường biến động và giá giảm do chất lượng thủy sản không đồng đều. Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có hệ thống kênh ngòi chằng chịt và hệ sinh thái đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản phát triển. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2019 là 826 nghìn ha với sản lượng đạt 3,15 triệu tấn (Tổng cục thống kê, 2021). Từ năm 2004 đến 2014 ĐBSCL chủ yếu xuất khẩu hai mặt hàng thủy sản chính là tôm và cá tra.
Nhưng, từ năm 2015 trở lại đây ĐBSCL chịu tác động lớn biến đổi khí hậu như xâm ngập mặn, nhiệt độ tăng, mưa trái mùa từ đó gây ra nhiều dịch bệnh trên con tôm, trong đó có 22,35% nông dân bị thua lỗ với mô hình nuôi tôm– lúa (Tuấn, 2018). Trong điều kiện khó khăn này cua biển (Scylla paramamosain) có đặc tính tăng trưởng nhanh, sức chịu đựng cao với sự biến đổi của các yếu tố môi trường, khả năng đề kháng với dịch bệnh, phổ thức ăn rộng, có kích thước lớn, chủ động nguồn giống, giá trị kinh tế cao và dễ dàng bảo quản sau khi thu hoạch nên cua biển được xem là đối tượng được người dân chọn nuôi ghép với tôm hiệu quả (Johnston & Keenan, 1999; Long, 2019b; Nghi et al. Tổng sản lượng cua biển nuôi ở ĐBSCL năm 2020 là 67 nghìn tấn tăng 19% so với năm 2015 (Tổng cục Thủy Sản, 2020). Lợi nhuận từ việc chuyển đổi mô hình nuôi chuyên tôm qua nuôi cua quảng canh bước đầu mang lại lợi nhuận cao.
Trung bình mỗi người dân kiếm lời 30 triệu đồng/ha/vụ (Nghi et al., 2015a; Việt et al. Bên cạnh sự tăng trưởng nhanh về sản lượng cũng như lợi nhuận mang lại cho nông hộ nuôi cua biển thì ngành hàng cua biển gặp rất nhiều khó khăn trong tiêu thụ cũng như phát triển ổn định. Chính sự phát triển nhanh chóng và không ổn định này đã mang lại cho ngành hàng cua biển những khó khăn hiện tại như không có quy hoạch vùng nuôi cụ thể cho cua biển, con giống không có kiểm dịch, sự liên kết hợp tác giữa các tác nhân chưa có, chưa phát triển được thương hiệu cua biển, chưa có bộ tiêu chuẩn trong khâu sản xuất, 1 luan an chất lượng cua không đảm bảo tính đồng nhất, thời gian vận chuyển và chờ dài và không đáp ứng đa dạng về sản phẩm cho người tiêu dùng. Từ những nguyên nhân này đã làm cho ngành hàng cua biển phát triển không ổn định trong thời gian qua, từ đó làm cho ngành hàng cua biển chủ yếu tiêu thụ nội địa, chưa xuất khẩu được qua các thị trường quốc tế.
Sản phẩm cua biển nuôi (CBN) chủ yếu là tiêu thụ nội địa, chưa xuất khẩu thị trường quốc tế (Hiền et al. Mặc dù, trên thế giới thị trường tiêu thụ cua biển khá lớn, năm 2019 tổng sản lượng là 187 triệu tấn, các nước như Mỹ, Trung Quốc, Indonesia, Singapore có thị trường tiêu thụ hàng đầu (FAO, 2020a). Bên cạnh đó, cua biển đa phần là tiêu thụ tươi nguyên con và hiện tại ĐBSCL chưa có nhà máy chế biến xuất khẩu cua biển quy mô lớn mà chỉ có các cơ sở chế biến thô nhỏ lẻ tại địa phương. Trong khi đó, khi thời gian chờ của cua biển từ lúc nông hộ nuôi cua biển thu hoạch cho đến tay người tiêu dùng cao thì chất lượng thịt giảm và làm giảm giá thành của sản phẩm (Lorenzo et al., 2021; Phương & Hải, 2009; Quế, 2005a).
Để khắc phục và vượt qua những khó khăn trong ngành hàng cua biển hiện nay thì phải có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn và nghiêm túc về phát triển quy hoạch vùng nuôi cua xây dựng thương hiệu cua biển vùng ĐBSCL. Trong điều kiện cua biển bị nhiều sản phẩm thay thế và cạnh tranh về số lượng và chất lượng thì các tác nhân trong chuỗi cung ứng cua biển cần hiểu đúng vai trò của việc vận hành chuỗi cung ứng từ việc mua nguyên liệu đầu vào, sản xuất, quản lý chất lượng cho đến phân phối sản phẩm tới tay người tiêu dùng. Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng gắn liền với hầu như tất cả các hoạt động của sản xuất, từ việc hoạch định và quá trình tìm nguồn cung, thu mua, sản xuất thành phẩm, quản lý hậu cần sản xuất,… đến việc phối hợp với các đối tác, nhà cung ứng, kênh trung gian, nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng (Shamsuddoha, 2007; Thái, 2013; Thu, 2015; Vân, 2010; Vi & Anh, 2010; Xuân & Thu, 2012). Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, đặc biệt là tiến trình hội nhập kinh tế thế giới thì vai trò của phân tích chuỗi cung ứng càng được coi trọng.
Trong những năm gần đây trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về chuỗi cung ứng ngành hàng thủy sản (Abduho & Madjos, 2018; Belton et al., 2011; Chojar, 2009; Coronado Mondragon et al., 2021; Jahan & Islam, 2016; Loc, 2006; Lộc, 2009; Love et al., 2021; Mojammel et al., 2016; Nga & Tựu, 2020; Patchanee et al., 2017; Quagrainie et al., 2007; Shamsuddoha, 2007; Thái, 2013; Thu, 2015; Vân, 2010; Vi & Anh, 2010; Xuân & Thu, 2012). Đa phần các nghiên cứu đã chỉ ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng ngành hàng thủy sản như “tiết 2 luan an kiệm chi phí trong vận hành, cải thiện chất lượng sản phẩm thủy sản, tăng cường liên kết dọc và liên kết ngang giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng”. Ngoài ra có một số ít nghiên cứu về “quản lý rủi ro trong chuỗi cung ứng, tối ưu hóa trong logistics và cũng cố kênh phân phối” (Anggrahini et al., 2015; Christopher, 2011; Lin & and Wu, 2016; Love et al., 2021; Panchal et al. Tuy nhiên, các nghiên cứu về ngành hàng thủy sản chỉ tập trung phân tích nâng cao lợi nhuận hay chỉ chú trọng đến một khâu nào đó trong chuỗi cung ứng mà chưa chú trọng đáp ứng toàn bộ quy trình vận hành của chuỗi cung ứng là đúng chất lượng, đúng thời gian, đúng địa điểm và đúng người tiêu dùng.
Ngoài ra, ngành hàng cua biển là ngành hàng tiêu thụ chủ yếu là tươi sống, chất lượng cua biển sẽ giảm theo thời gian chờ cùng với rủi ro do hao hụt trong quá trình vận chuyển là rất lớn và đây cũng là rào cản lớn nhất làm cho ngành hàng cua biển phát triển chậm. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam phân tích sâu và đầy đủ về việc đáp ứng đúng và đủ quy trình vận hành của chuỗi cung ứng. Chính vì vậy, nghiên cứu chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển sẽ giúp nâng cao chất lượng cua biển trong khâu sản xuất, tiết kiệm được chi phí vận hành logistics, rút ngắn thời gian chờ trong vận hàng chuỗi, giảm rủi ro do cua chết và đáp ứng đúng nhu cầu người tiêu dùng. Từ thực trạng hoạt động của các tác nhân ngành hàng thủy sản nói chung và ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL nói riêng.
Trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế quốc tế, vùng ĐBSCL đòi hỏi phải có những giải pháp thiết thực và hữu hiệu để hoàn thiện chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng đúng về thời gian, số lượng, chất lượng và đúng người tiêu dùng với giá cạnh tranh giúp phát triển bền vững ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL. Xuất phát từ những thực trạng đó nghiên cứu: “Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” làm luận án tiến sĩ là rất cần thiết.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nhằm nâng cao tính kinh tế chuỗi cung ứng, góp phần đáp ứng đúng thời gian, địa điểm, chất lượng và người tiêu dùng sản phẩm cua biển với giá cạnh tranh.2 Mục tiêu cụ thể Mục tiêu 1: Xây dựng khung lý thuyết phân tích chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL. Mục tiêu 2: Phân tích kết cấu và vận hành chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển 3 luan an vùng ĐBSCL. Mục tiêu 3: Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL.
Mục tiêu 4: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển nhằm tăng kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL.3 Câu hỏi và giả thiết trong nghiên cứu 1.1 Câu hỏi nghiên cứu Tình hình nuôi cua biển vùng ĐBSCL giai đoạn 2015-2020 như thế nào? Thực trạng sản xuất, tiêu thụ và phân phối cua biển vùng ĐBSCL ra sao? Cấu trúc vận hành chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định mua cua biển chế biến của người tiêu dùng tại Việt Nam? Các tác nhân nào tham gia trong chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL? Cơ cấu phân bổ lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL như thế nào? Giải pháp nào giúp tăng tính kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL? 1.2 Giả thuyết nghiên cứu Các yếu tố như (kinh nghiệm; tập huấn; số lần thu hoạch; quyết định bắt cua Y4; số lượng bẫy cua; thời gian nuôi; cải tạo ao; con giống) có ảnh hưởng đến chất lượng cua biển nuôi vùng ĐBSCL. Các yếu tố (tuổi; giới tính; trình độ; thu nhập; nhận thức xã hội; nhận thức về sự tiện lợi; nhận thức về sức khỏe; nhận thức về giá cả; nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm) có ảnh hưởng đến ý định mua cua biển chế biến của người tiêu dùng.4 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển (Scylla paramamosain ) vùng ĐBSCL. Tác nhân cung cấp là (các chủ đại lý vật tư thủy sản, chủ trại giống) tại ba tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau qua mạng liên hệ từ hộ nuôi cua biển vùng ĐBSCL. 4 luan an Tác nhân sản xuất là nông hộ nuôi cua biển ở các tỉnh có diện tích và sản lượng cua biển lớn nhất ĐBSCL (Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau) nhằm để đánh giá chất lượng sản phẩm cua biển.