Chương 1: Trình bày khái quát lý do hình thành dé tài nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp thực hiện dé tài dé tổng quan về dé tài nghiên cứu. Chương 2: Trình bảy cơ sở lý thuyết làm nên tảng cho nghiên cứu: khái niệm hiệu ứng Bullwhip, nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng này, phương pháp đo lường là biện pháp hạn chế ảnh hưởng của hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, giới thiệu lý thuyết động học hệ thống và phần mềm Vensim dé mô phỏng hoạt động của chuỗi cung ứng. Chương 3: Trình bày dữ liệu, thông tin và phương pháp xử lý dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu.
Chương 4: Giới thiệu khái quát về chuỗi cung ứng của công ty The Fruit Republic. Đánh giá thực trạng hiệu ứng Bullwhip đang diễn ra trong chuỗi cung ứng. Chương 5: Lượng hóa hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng của The Fruit Republic, mô phỏng chuỗi cung ứng bằng Vensim. Từ đó xác định nguyên nhân và dé xuất các giải pháp hạn chế tác động của hiệu ứng Bullwhip.
Chương 6: Tóm tắt nội dung bài nghiên cứu và nêu những hạn chế trong bài luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LY THUYET Chương 2 trình bày tổng quan về lý thuyết vấn dé nghiên cứu bao gom định nghĩa, nguyên nhân, giải pháp cho hiệu ứng Bullwhip trong hoạt động của chuối cung ứng. Bên cạnh đó, trong chương này, nghiên cứu đã trình bày phương pháp mô phỏng lý thuyết động học hệ thống và công cụ thực hiện mô phỏng chuỗi cung ứng bằng phan mêm Vensim dé phân tích hiệu ứng Bullwhip. Tong quan về hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng 2.
Khái niệm hiệu ứng Bullwhip Hiệu ứng Bullwhip được phát hiện đầu tiên bởi Ray Forrester (MIT) vào nam 1961 trong một nghiên cứu có tên “Industrial Dynamics”. Tuy nhiên, Bullwhip chi được phát triển một cách toàn diện và gắn với chuỗi cung ứng bởi Hau Lee trong bài báo “The Bullwhip effect in supply chains” trên tap chí MIT Sloan Management Review năm 1997. Từ đó người ta mới thực sự nhìn nhận vai tro vai tác động của hiệu ứng này. Có các định nghĩa về hiệu ứng Bullwhip điển hình như: e Bullwhip là xu hướng gia tăng dung lượng don hàng khi càng di chuyển lên các kênh của chuỗi cung ứng (Croson và Donohue, 2006).
e Hiệu ứng Bullwhip dé cập đến một hiện tượng xảy ra trong chuỗi cung ứng khi các đơn đặt hàng cho nhà cung cấp có sự khác biệt lớn hơn so với những đơn hàng từ các khách hàng. Sự biến dạng nhu câu này là sự khuếch đại nhu câu và lan truyền ngược dòng chuỗi cung ứng (Disney và cộng sự, 2003) eHiệu ứng Bullwhip là sự thay doi nhu câu trong toàn hệ thống (theo hướng gia tăng) theo nhu cầu thông tin từ đầu chuỗi đi ngược vào chuỗi đến các trung tâm phân phối (DCs), nhà sản xuất và nhà cung cấp (Chen và cộng sự, 2000). e Hiệu ứng Bullwhip (hay Whip-saw / Whip-lash) là hiện tượng dung lượng đơn hàng của nhà cung cấp cung ứng có xu hướng thay đổi lớn hơn nhiều so với dung lượng đơn hàng bán ra và sự biến động này cảng tăng cao khi thông tin được truyền đến các kênh cung ứng bên trên của chuỗi cung ứng (Lee và cộng sự, 1997). Từ các khái niệm này nhìn chung hiệu ứng Bullwhip là hiệu ứng liên quan đến hiện tượng phóng đại sự biến đổi nhu cầu trong chuỗi cung ứng từ nhà bán lẻ, nhà phân phối, nhà sản xuất đến nhà cung cấp.
Khi một sự thay đối nhỏ trong nhu cầu bên dưới của chuỗi cung ứng sẽ gây ra một sự thay đổi lớn ở các thành phần bên trên của chuỗi. Hiệu ứng Bullwhip được thé hiện cụ thé qua hình 2.1 sau: Consumer Sales Retailer's Orders to Manufacturer 20r ?0r z 15r > lỗ 5 5 F 10F ð 10 3 S 5} ^- S 5 PT da “Jf 0 ae aS ee ee ee ee ee ee ee en ee ee ee ee ee ee 0 Time Wholesaler’s Orders to Manufacturer Manufacturer's Orders to Supplier 207 0 ề zƒƑ š 3 ƒ to 0 ¡ NÊN VY er TA tá ải es Bế VI VU (li Vải ĐẾN VĂN VÀU ee Hình 2.1: Hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng (Lee và cộng sự, 1997) 2. Mô tả hiệu ứng Bullwhip Các thành phan trong chuỗi cung ứng đều vận hành theo quy trình nhằm tối ưu hóa tồn kho nhưng vẫn phải đảm bảo cung ứng lượng hàng cần thiết cho khách hàng. Tuy nhiên, Bullwhip là nguyên nhân dẫn đến một số van dé tổn tại trong chuỗi cung ứng như biến động nhu cầu của khách hàng, lead time, hư hỏng máy móc đột ngột hay sự thay đối của các chính sách.
tác động đến việc vận hành của toàn bộ chuỗi cung ứng (Lee và cộng su,1997). Bullwhip đã làm xuất hiện một van đề nổi bật trong chuỗi cung ứng là trong khi lượng cầu của khách hàng thay đổi không nhiều nhưng mức tồn kho và lượng đặt hàng lại biến động một cách đáng kê. Cụ thể như sau, khi doanh số bán hàng ở mức trương đối ôn định thì số lượng đơn hàng của nhà bán lẻ đặt hàng cho đại lý đã có xu hướng biến động nhiều hơn so với nhu câu thực tế. Tiếp theo đó, đơn hàng của đại lý gửi đến nhà máy sản xuất và từ nhà máy sản xuất đến nhà cung cấp lại càng biến động lớn hơn nữa.
Sự biến động của đơn hàng ngày càng tiễn sâu hơn vào chuỗi cung ứng khiến cho nhu cầu thông tin ngày càng bị méo mó hơn. Gắn với hiệu ứng Bullwhip là trò choi “Beer distribution” (Sterman, 1989) giúp hiểu rõ hơn về vai trò và tác động của Bullwhip. Trò chơi nay là mô hình mô phỏng chuỗi cung ứng bia, bao gồm bốn bộ phận: nhà bán lẻ, nhà bán sỉ, nhà phân phối và nhà sản xuất. Trò chơi được tiến hành với nhóm 4 thành viên, mỗi thành viên quản lý một bộ phận của chuỗi.
Hăng tuần, thông tin về nhu cầu khách hàng được chuyền từ nhà bán lẻ đến nhà bán sỉ, qua trung tâm phân phối và đến nhà sản xuất. Tại mỗi chặn của chuỗi luôn có sự chậm trễ trong thời gian nhận hàng, thực hiện và giao hàng. Mục tiêu của chuỗi cung ứng là giảm thiểu tối đa chi phí ton kho. Tat cả các trường hop thí nghiệm đều cho thay rang don hàng và lượng hàng tồn kho luôn không 6n định và luôn biến động.
Trong hau hết các thí nghiệm, khi mức tôn kho của nhà bán lẻ giảm thì mức tồn kho ở nhà bán sỉ, nhà phân phối và nhà sản xuất đều đồng loạt giảm theo. Vì tồn kho giảm, lượng đơn hàng ở mỗi bộ phận của chuỗi cung ứng lại tăng lên. Điều này dẫn đến mức ton kho tăng và trong một số trường hợp mức tồn kho tăng quá mức mong đợi. Thêm vào đó, biên độ và phương sai của đơn hàng tăng doc theo toàn bộ chuỗi cung ứng, đồng thời tỷ lệ đơn hang có xu hướng tăng rất cao ở những bộ phận của chuỗi.
Tác động của sự dao động, sự khuếch dai và lead time được thấy rõ trong trò chơi này. Kết quả “Beer Games” thé hiện ở hình sau: Hình 2.2: Kết quá “Beer Game” (Sterman, 1989) Hiệu ứng Bullwhip không chỉ được quan sát trong mồ hình mô phỏng hay lý thuyết mà các doanh nghiệp cũng nhận thấy hiệu ứng này trong chuỗi cung ứng của mình. Cong ty Proctor & Gamble (P&G) va Hewlett-Packard (HP) là ví dụ dién hình. P&G nhận thay sự biến động don hang trong chuỗi cung ứng của họ.
Trong khi doanh số bán hàng của các cửa hang bán lẻ có biến động với mức độ không lớn, nhưng biến động đơn hàng tại nhà phân phối lại lớn hơn, thậm chí việc đặt hàng nguyên liệu của P&G với nhà cung cấp cũng có mức biến động rất lớn. Thoạt nhìn thì sự biến động này không hợp lý, bởi vì nhu cau các sản phẩm ta giấy của P&G luôn ở mức 6n định. Nhưng mức độ biến động đơn hàng ngày càng lớn khi tiến sâu vào chuỗi cung ứng, P&G đã gọi hiên tượng này là hiệu ứng Bullwhip. Tương tự như P&G, các nhà điều hành của Hewlett-Packard (HP) cũng gặp vẫn để này trong chuỗi cung ứng máy in laser của họ.
Khi kiểm tra doanh số bán sản phẩm của HP ở một đại lý chủ chốt thì thay có sự biến động, nhưng biến động don hàng tu dai lý này có mức độ còn lớn hơn. Vậy chuỗi cung ứng của họ cũng bị ảnh hưởng bới tác động của hiệu ứng Bullwhip (Lee và cộng sự, 1997). 10 Bullwhip không phải là một van dé mới mẻ trong chuỗi cung ứng. Bởi vi sự biến động quá mức và sự phóng đại nhu cau, hiệu ứng Bullwhip đã gây ra hậu qua xau cho hoạt động của chuỗi cung ứng.
Kết quả hiệu ứng Bullwhip có tác động lớn đến: Lượng hàng tồn kho, mức độ dự trữ hàng hóa ở các kho của nhà sản xuất, nhà phân phối, đại lý tăng cao; kế hoạch sản xuất không chính xác; dịch vụ khách hàng yếu kém; giảm doanh thu,. (Cachon, 2001) Sự chênh lệch quá lớn trong dự báo và nhu cầu thực đã tác động lớn đến toàn bộ hoạt động của hệ thống chuỗi cung ứng. Do đó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xác định nguyên nhân của hiện tượng này. Nguyên nhân cúa hiệu ứng Bullwhip Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, quản trị chuỗi cung ứng có vai trò ngày càng quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp.
Mặc dù các doanh nghiệp luôn n6 lực để tránh sự ảnh hưởng của hiệu ứng Bullwhip nhưng van dé này vẫn luôn tổn tại trong hoạt động của mỗi chuỗi cung ứng. Hiệu ứng Bullwhip diễn ra khi một thay đổi nhỏ trong nhu cầu ở khâu bên dưới của chuỗi cung ứng có thé gây ra một sự thay đối rất lớn ở khâu bên trên của chuỗi. Sự biến động này làm gia tăng chi phí tồn kho, nguồn lực được sử dụng không hiệu quả và dẫn đến dịch vụ khách hàng kém. Điều này đã dẫn đến việc tìm ra nguyên nhân của hiệu ứng Bullwhip trở thành một đề tài thu hút nhiều nghiên cứu.
Hiệu ứng Bullwhip là kết quả của hành vi hợp lý của con người trong chuỗi cung ứng (Lee và cộng sự, 1997). Bốn nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng Bullwhip bao gồm: - Cách thức cập nhật dự báo nhu cau, - Dung lượng đơn hang theo gó1/]ô, - Sự biến động giá cả và - Trò chơi tạo sự hạn chế và thiếu hụt. Bồn nguyên nhân này nhanh chóng được chấp nhận như một mô hình dé phân loại nguyên nhân của hiệu ứng Bullwhip. Mỗi nguyên nhân này xuất hiện trong chuỗi cung ứng cộng với các quyết định của nhà quản lý đã gây ra hiệu ứng Bullwhip.