Đặt vấn đề Ngày nay, van đề về sức khỏe con người luôn là một van đề cấp thiết, khi nhu cầu về sức khỏe con người tăng cao thì tiềm năng phát triển của các ngành sức khỏe cũng tăng cao, một trong số đó ngành công nghiệp được liệu được coi như là một tiềm năng phát triển to lớn cần được khai thác. Với điều kiện địa lí và môi trường tự nhiên thuận lợi giúp cho Việt Nam ta có thảm thực vật vô cùng đa dạng và phong phú, với nhiều loại được liệu quý hiếm và có giá trị dinh dưỡng cao trong tự nhiên là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trong ngành dược liệu. Tuy nhiên nguồn dược liệu nước ta vẫn còn chưa đáp ứng được nguồn cung cho nhu cầu thị trường, nguyên nhân là do các vấn dé về quy hoạch và các phương pháp canh tác còn nhiều mặt hạn chế dẫn đến nguồn nguyên liệu chưa đủ về mặt đáp ứng, dé giải quyết các vấn đề trên thi chúng ta cần có phương pháp canh tác phù hợp hơn, hiệu quả hơn so với các phương pháp canh tác truyền thống. Công nghệ thủy canh đã được nghiên cứu từ thé ki XVII cho đến nay với sự phat triển vượt bậc về khoa học và công nghệ, phương pháp nuôi trồng thủy canh đã nghiên cứu thành công nuôi trồng nhiều loại rau, cây ăn quả, cây dược liệu.
(Resh, 2022) ngày nay phương pháp nuôi trồng thủy canh đã dần thay thế với các phương pháp trồng truyền thống trên đất ở nhiều loài thực vật khác nhau. Cây định lăng lá rang (Polyscias filicifolia (Moore ex Fourn. Bailey) được trồng phổ biến ở các nước Đông NamA và các đảo nhiệt đới khu vực Thai Binh Duong. Theo các nghiên cứu trước đây cho thấy trong mẫu rễ và lá cây đinh lăng lá rang có hàm lượng saponin triterpenoid cao (Divakar va ctv, 2010), trong nhóm saponin triterpenoid aglycone Axit oleanolic đã được chứng minh là có nhiều đặc tính bao vệ gan, chống viêm, chống oxy hóa, chống ung thư va bảo vệ tim mạch (Thakur va ctv, 2011; Liu 2005; Pollier va Goossens, 2012), cũng như tác dụng kháng khuẩn va chống ký sinh trùng (Szakiel va ctv, 2008).
Công nghệ nuôi trồng thủy canh được áp dung vào ngành công nghệ dược liệu giúp giải quyết các vẫn đề về nguồn nguyên liệu vì vậy đề tài “Nghiên cứu môi trường trồng thủy canh cây đinh lăng lá rang (Polyscias filicifolia (Moore ex Fourn. Bailey) và phân tích các thành phan hoạt chất, hoạt tính sinh học trong cây” được thực hiện, giúp khảo sát môi trường trồng thủy canh phù hợp và xác định các thành phần hoạt chất trong cây được liệu đinh lăng trồng thủy canh. Mục tiêu của đề tài Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng trong môi trường dinh dưỡng thủy canh. Khảo sát thành phần nhóm hợp chất có trong rễ, thân, lá cây đỉnh lăng được trồng bằng phương pháp thủy canh.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ dinh dưỡng đến đến sự sinh trưởng phát triển của cây đỉnh lăng trồng thủy canh và đất. Nội dung 2: Đánh giá ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ (NAA) đến cây đinh lăng trồng thủy canh. Nội dung 3: Đánh giá thành phan và hàm lượng hoạt chat trong cây đinh lăng trồng thủy canh. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu về cây Dinh lăng lá rang (Polyscias filicifolia (Moore ex Fourn. Phân loại thực vật Theo trung tâm dt liệu thực vật Việt Nam, Dinh Lang lá rang được phân loại như sau: GIớI: Plantae (Thực vật) Ngành: Magnoliophyta Lop: Magnoliopsida Bo: Cornales Ho: Araliaceae Chi: Polycias Loài Polyscias filicifolia (Moore ex Fourn. Bailey sả Hình 2. Cây định lăng lá rang (ảnh chụp tại huyện Châu Thành, tỉnh Bên Tre vào tháng 3 năm 2023).
Dinh lăng lá rang mang tên khoa học là Polyscias filicifolia (Moore ex Fourn. Bailey Tên khác Aralia filicifolia Morre ex Fourn, còn được nghe biết với những tên gọi khác như cây đinh lăng lá lớn, định lăng tẻ, định lăng to. Lá định lăng rang thường có lá dày, bản to và các răng cưa cũng chắc hơn rất nhiều. Đặc điểm phân bố Có gần 100 loài thuộc chi Polyscias Forst & Forst f.
trên khắp thé giới, phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là một số đảo ở Thái Bình Dương. Có khoáng 7 loài được trồng ở Việt Nam (Grushvitzky và ctv, 1985). 3 Cây đinh lăng có nguồn gốc từ Quần đảo Polynesia ở Thái Bình Dương. Cây mọc ở các nước châu Á như Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào,.
Ở Việt Nam, đỉnh lăng cũng được trồng phổ biến và thường được dùng làm rau cảnh, làm thuốc và gia vị. Cây thường được trồng ở vườn nhà, chùa, phòng khám, bệnh viện. Dinh lăng là loại cây ưa âm, chịu bóng ram, có thé trồng trên nhiều loại đất khác nhau, dù trong chậu nhỏ có rất ít đất cũng có thé phát triển như cây bonsai. Trồng từ cành, cây sẽ ra quả sau 2-3 năm.
Chưa có quan sát thấy cây con mọc lên từ hạt. Dinh lăng có khả năng tái sinh vô tính mạnh. Từ một thân hoặc cành được trồng xuống đất, một cây mới được mọc lên nếu ta cắm một đoạn thân hoặc cảnh giâm xuống đất 793-795 (Đỗ Huy Bích, 2006). Đặc điểm thực vật học Dinh lăng lá rang được gọi là Polyscias filicifolia, tiểu mộc cao đến 2,5m, thân có bì khong, lá đặc biệt đa dang, lá kép có từ 11-13 lá chét, lá chét có hình mac có rang cưa to và sâu, ở thân non kép 1-2 lần thành đoạn hẹp nhọn, bìa có răng nhọn, dang lá ráng, ở nhánh già có lá đơn, xoan đến thon, thường lục tươi, thân giữa tía (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006; Phạm Hoảng Hộ, 2003).
Thành phần hóa học cây đỉnh lăng Một số thành phần hóa học trong cây đỉnh lăng: phenolic, flavonoid, alkaloid, saponin, coumarin, quinone, glycosid, tanin, vitamin B1 và khoảng 20 loại acid amin nhu arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, metionin. Cong dung cay dinh lang Rễ đinh lăng được dùng làm thuốc bổ tăng lực, chữa co thé suy nhược, gầy yếu, mệt mỏi, tiêu hóa kém, phụ nữ sau khi sinh ít sữa. Có nơi còn dùng chữa ho, đau tử cung, thuốc lợi tiểu, chống độc, Lá chữa cảm sốt, mụn nhọt sưng tấy, sưng vú, dị ứng man ngứa, vết thương (giã đắp). Thân và cảnh chữa thấp khớp, đau lưng.
Ở An Độ, đinh lăng được dùng làm thuốc làm săn da và trị sốt rét. Rễ và lá sắc uống có tác dụng lợi tiêu chữa sỏi thận, sỏi bàng quang, chứng khó tiểu tiện. Bột lá được giã với muối và đắp trị vết thương (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Giới thiệu về thủy canh Kỹ thuật canh tác không cần đất hay còn gọi là kỹ thuật “thủy canh”.
Thuật ngữ thủy canh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “hydro” có nghĩa là nước và “ponos” có nghĩa là công việc, là phương pháp trồng cây sử dụng dung dich dinh dưỡng khoáng không cần dat (Beibel, 1960). Thực vật trên cạn chỉ có thé được trồng trong dung dịch dinh dưỡng khoáng hoặc trong môi trường trơ như đá trân châu, sỏi hoặc bông khoáng. Do đó, thủy canh là kỹ thuật trồng cây trong điều kiện không có đất với chất nền trơ hoặc rễ của chúng được ngâm trong dung dich dinh dưỡng mà không sử dụng bat kỳ chất tông hợp nao (Maharana, 2011). Kỹ thuật canh tác không cần đất được chia làm hai phương pháp cơ bản là phương pháp tuần hoàn (hệ thống khép kín) hay còn gọi là nuôi cấy dung dịch dòng chảy liên tục gồm có kỹ thuật màng dinh dưỡng và kỹ thuật dòng chảy sâu, phương pháp này cung cấp dinh dưỡng môi trường én định cho rễ, phương pháp này có thé tự động hóa nhưng cũng dễ khiến cây mat nước nhanh chóng do dòng dung dich dừng lại bởi hệ thống va bat kì lí do gì.
Phương pháp thứ hai thứ hai là phương pháp không tuần hoàn (hệ thống mỏ) hay còn gọi là nuôi cây dung dich tĩnh và được chia làm ba kỹ thuật: kỹ thuật nhúng rễ, kỹ thuật nôi va kỹ thuật mao dẫn (Hussain và ctv, 2014). Ưu điểm của kỹ thuật canh tác không cần đất có nhiều ưu điểm và lợi thế hơn so với kỹ thuật canh tác trên đất (Savvas, 2002). Nuôi cấy không cần đất mang lại cơ hội cung cấp các điều kiện tối ưu cho sự phát triển của cây trồng nhờ vậy cây trồng có thé đạt được năng suất cao hơn và nguồn nguyên liệu nhất quán hơn so với kỹ thuật trồng đất. Thủy canh giúp phát triển cây khỏe mạnh và sạch, canh tác lại đễ dàng không tốn nhiều sức lực.
Chất dinh dưỡng được đưa trực tiếp đến rễ, nhờ đó cây phát triển nhanh hơn với bộ rễ nhỏ hơn, mật độ cây có thé trồng dày đặc hơn chỉ bằng 1/5 diện tích so với trồng đất và lượng nước tiết kiệm hơn chỉ bằng 1/20 tổng lượng nước cần dùng cho cây trồng đất (Silberbush và ctv, 2001). Tuy nhiên, phương pháp vẫn có khả năng xảy ra một số loại sâu bệnh, bệnh cây hoặc cỏ đại lây truyền qua giá thể trong hệ thống và việc kiểm soát những bệnh này là cần thiết vì tốc độ lan ra rất nhanh. Nhìn chung phương pháp thủy canh kiểm soát đinh dưỡng hiệu quả và mật độ trồng cao hơn, đồng thời mang lại năng suất cao hơn cùng với chất lượng cây tốt hơn. Nó đặc biệt thích hợp cho những khu vực trên thế giới thiếu đất canh tác cho canh tác nông nghiệp và công nghiệp (Savvas, 2002).
Chất điều hòa sinh trưởng NAA NAA là chất điều hòa sinh trưởng thực vật, hỗ trợ quá trình phân chia tế bảo và hình thành chồi, rễ và lá, giúp đây nhanh quá trình giâm trồng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng các cành giâm được xử lý bằng chất điều hòa sinh trưởng loại auxin sẽ cải thiện khả năng ra rễ ở các loài thân gỗ và bán thân gỗ. Các loại auxin khác nhau như Indole Butyric Acid (IBA), Naphthalene Acetic Acid (NAA) đã được chứng minh là có tác dụng thúc đây sự ra rễ của cành giâm của nhiều loài thực vật và có thé được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp lại. Một số hợp chất quan trọng trong đỉnh lăng 2.
Hợp chất Polyphenol Polyphenol là hợp chất tự nhiên thực vật là chất chuyển hóa thứ cấp từ phenylpropanoid, polyphenol chiếm hơn 80.000 hợp chat đã biết với khối lượng phân tử lên tới 30. Polyphenol được xác định theo đặc điểm cấu trúc của các lớp và phân lớp được phân loại theo Phenol-Explorer (Rothwell, 2013). polyphenol thực vật được phân thành 6 loại (flavonoid, axit phenolic, lignan, stilben, các polyphenol khác và chất chuyển hóa không phenolic của polyphenol) với tổng số 31 phân nhóm (vi dụ: flavon, axit hydroxybenzoic, alkylphenol) (Quideau và ctv 2011; Sébastien va ctv, 2018).