Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu sơ lược về tia tô 1.1 Nguồn gốc, phân bố Theo Hồ Đình Hải (2013), nguồn gốc ban địa của Chi tia tô (Perilla) trai rộng từ Ấn Độ đến Đông Nam A. Loài tia tô (Perilla frutescens) được xác định có nguồn sốc Ở vùng núi Himalayas đến vùng Đông Nam Á. Ở Trung Quốc, cây tía tô được trồng ít nhất từ 500 năm trước Công Nguyên. Nhật Bản, cây tia tô được trồng vào thé kỷ thứ 7 — 9 sau Công Nguyên.
Loài nay du nhập vào Mỹ làm cây cảnh và đã trở thành thực vật xâm lan (Hồ Đình Hải, 2013). Các phân loài quan trọng gồm: - Tia tô lá tím (P. crispa): Gốc Trung Quốc và Nhật Bản - Tia tô lá xanh (hay tia tô lá mè) (P. frutescens): Được gọi là mè hoang đại ở Hàn Quốc.
- Tia tô hai màu (P. crispa forma và Perilla frutescents var. acuta) là dang lá phía trên màu xanh, phía dưới mau tim. - Tia tô mép lá quan (Perilla ocymoides L.
bicolorlaciniata) có gia tri sử dụng cao hon.2 Phan loại thực vat Tia tô là cây thân thao, mọc hang năm, đứng thang. Tên khoa học là Perilla ƒrufescens, thuộc bộ hoa môi Lamiales, ho hoa môi Lamiaceae, chi tia tô Perilla, loài Perilla frutescens. Một sô tên đồng nghĩa khác của tia tô: Perilla macrostachya, Perilla ocymoides, Perilla urticifolia, Ocimum frutescens. Tại Việt Nam cây tia tô còn có tên gọi khác là tử tô (Đỗ Tất Lợi, 2004).3 Đặc điểm thực vật học Rễ: Trong bộ rễ tia tô có 2 — 3 rễ chính ăn sâu xuống đất khoảng 8 — 20 em, có một số rễ ăn xiên dai tới 30 — 40 em.
Trên rễ chính có nhiều rễ cấp 2, cấp 3 hợp thành bộ rễ tập trung ở độ sâu 10 -20 cm (Nguyễn Hữu Doanh, 2000). Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2006), cây tía tô được mô tả như sau: Thân: cây nhỏ, cao 0,5 -Im. Thân vuông, mọc đứng, phân cành nhiều, có rãnh đọc và có lông. Lá: mọc đối, hình bầu dục, đài 2 -3 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép khia răng và uốn lượn, mặt trên xanh lục, mặt dưới tia, có khi cả hai mặt đều tía, có long; cuéng lá dai.
Khi vò ra, lá có mùi thơm đặc biệt. Hoa: cum hoa moc ở kẽ lá, dài 6 -20 cm; lá bạc hình mac, dài hơn hoa; hoa nhỏ, màu trắng hay tim; đài hình chuông, phình ở phía dưới, môi trên cụt, 3 răng bằng nhau, ngắn, môi dưới 2 rang; tràng có ống hình chuông, có lông ở mặt ngoài, gồm 5 cánh; nhị 4, an trong trang, chỉ nhị ngắn, nhắn, đính tơ 1/3 phía trên ống tràng, bao phan hình mát chùm, lúc đâu song song sau chẽ ra; bàu có nhụy xẽ đôi. 4 Qua: quả bê, hình câu đường kính 1 mm, màu nâu sang. Hạt: Hạt nhỏ và hình cầu, và trọng lượng 1000 hạt của chúng là khoảng 4 g.
Su lây lan của nó được đảm bảo bằng cách thả gần cây mẹ hoặc chúng có thể được vận chuyến bằng gió hoặc nước.4 Điều kiện sinh thái của cây tía tô Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2006): tía tô là cây ưa sáng và ưa âm, thích nghi nhiệt độ trung bình năm từ 18 đến 23°C. Ở những vùng có khí hậu nhiệt đới điển hình như ở các tỉnh phía nam, cây thường chỉ trồng được vào mùa mưa. Tía tô ra kết quả nhiều. Sau khi già, cây tàn lụi, hạt giống phát tán ra xung quanh, đến mùa mưa âm năm sau mới nây mầm.
Tuy nhiên do nhu cầu sử dụng rau gia vị nhiều, nên người ta có thê trồng tía tô gan như quanh năm. Tia tô được ghi nhận lần đầu trong thư tịch cô của Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5- thứ 6, là cây ưa sáng và ưa âm, thích nghi với những vùng khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình từ 18 - 25°C.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây tía tô 1.1 Quy trình canh tác Theo Mai Văn Bưởng (2020), quy trình canh tác tía tô như sau: - Chuan bị cây giống Gieo hạt giống vào từng khay nhựa với giá thể, mỗi lỗ 1 hạt và phủ một lớp đất mỏng và làm âm khi gieo xong. Xuất vườn ở khoảng 30 — 35 NSG. Các cây giống có chiều cao từ 6 cm trở lên và có 3 cặp lá, cây bình thường, không dị tật được xem là đủ tiêu chuẩn xuất vườn (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao, 2015).
- Chuan bị đất trồng Đất được cày xới và nhặt sạch cỏ dại. Trước khi trồng 7 ngày thì bón lót toàn bộ lượng vôi và phân lân. - Trồng cây giống Cây giống được trồng vào buổi chiều mát, khi trồng đặt cây nhẹ nhàng để tránh ton thương. Sau khi trồng phải tưới nước ngay dé cây không bị héo.
Chọn cây con đồng đều, cây khỏe mạnh, xanh đẹp, không sâu bệnh hại. Trồng với khoảng cách 60 x 30 em. Từ 3 - 5 NST tiến hành kiểm tra trồng đặm lại các cây bị chết. - Chế độ dinh đưỡng và nước tưới Nước tưới: 2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều mát, sử dụng nguồn nước sạch từ trại khoa Nông học, pH từ 5,5 đến 6,5.
Trong quá trình chăm sóc tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và tình hình sinh trưởng của cây có thê tưới thêm nước đề đảm bảo cây sinh trưởng tốt. - Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại Ở 10 NST tiến hành vun gốc giúp cây đứng vững trên đất và làm cỏ. Cây tía tô thường ít sâu bệnh hại, thường xuyên kiểm tra nếu có nên sử dụng các loại thuốc phòng trừ có tính tiếp xúc, mau phân hủy và có thời gian cách ly ngắn đồng thời tuân thủ theo nguyên tắc ““4 đúng”. Các loại thuốc sử dụng theo danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.
- Thu hoạch: Tiến hành thu hoạch khi cây tía tô ra hoa khoảng 10%. Loại bỏ các lá già, héo, bị sâu, dị dạng.2 Chăm sóc Tía tô ít bị sâu bệnh. Ở giai đoạn cây con, tía tô bị bệnh thối cây ở gốc, bệnh héo lá, lúc cây sinh trưởng cũng có sâu ăn lá, sâu cuốn lá. Nếu trồng tía tô trên diện tích nhỏ, mỗi buổi sáng, buổi chiều nên thăm ruộng nếu phát hiện có cây héo, cây bị sâu nên nhé bỏ, hoặc ngắt lá, bắt sâu giết đi.
Không nên phun thuốc, nhất là khoảng 10 — 15 ngày trước khi thu hoạch ăn, đem bán hoặc làm thuốc. Tia tô cấy theo hàng có thé làm cỏ - vun gốc vào trước lúc bón phân. Tia tô gieo vãi cần nhé cỏ kịp thời dé cỏ không 1an at ruộng tía tô (Mai Văn Quyền và ctv, 2000). Xới vun, trừ cỏ đại: sau trồng từ 15-20 ngày, tiến hành xới phá váng, vun nhẹ, kết hợp với việc trừ cỏ dại.
Sau trồng 30 —35 ngày thì vun cao (Tạ Thu Cúc, 2013).3 Một số sâu hại phố biến trên tia tô Sau khoang (Spodoptera litura Fabr) Sâu khoang là loài đa thực, ước tinh phá hai 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật. Ngài sâu khoang đẻ trứng ở mặt dưới lá thành từng 6 có có lớp tơ min mau hồng. Sâu non tuổi nhỏ tập trung thành từng đám gặm ăn lá, chi dé lại biểu bì trên và gân lá. Khi sâu lớn thi phân tán, ăn thủng lá chỉ dé lại gân lá làm giảm năng suất và giá trị thương phẩm nghiêm trọng (Nguyễn Đức Khiêm, 2005).
Bệnh héo cây con Ở giai đoạn cây con có 4 — 5 lá thật thường bị bệnh chết rạp cây con do nam Fusarium sp. Phòng trừ bằng cách xử lý đất bằng vôi trước khi trồng. Vào mùa mưa nên làm chân liếp cao, trồng thưa, thu gom tàn dư cây trồng đem tiêu hủy, không trồng tía tô trên cùng một chân đất (Phạm Hữu Nguyên, 2014).4 Thu hoạch Tùy vào mục đích sử dụng mà thời gian thu hoạch khác nhau: 1.1 Thu hoạch để làm rau gia vị Với khoảng cách trồng 15 x 15 cm thường thu hoạch 1 lần, nhé cả cây, bó thành từng bó đem bán. Nếu trồng thưa hơn: 20 x 25 em có thể tỉa cành đem bán, sau đó tưới nước đề cây hồi xanh.
Khi cây đã đâm thêm lá, chồi, nên ngâm bánh dầu với lượng 20 kg dé tưới cho 1000 m? hay 2 kg cho 100 m?, cộng thêm 1 kg urê hay 3 kg phân NPK, trước khi tưới nên vun gốc, làm cỏ, sau đó tưới phân nên hòa nhiều nước dé khỏi hư lá. Sau khi trồng 25 — 30 ngày đã có thé thu hoạch. Nếu cắt tia thì thường dung liềm hay dao sắc cắt cây cách mặt đất khoảng 10 cm, nên chừa lại 2 — 3 tầng lá dé cây có thé đâm chéi. Tiếp tục chăm sóc để cây cắt đợt sau.
Mỗi đợt cắt có thé thu 500 — 600 kg cho 1000 m? đất hay 5 -6 tan cho 1 ha. Nếu chăm sóc tốt sẽ có thé thu hoạch nhiều đợt. Khi thay năng suất đợt sau giảm hơn đợt trước 20 — 30 % hay nhiều hơn có thé phá bỏ cây dé trồng cây rau khác.2 Thu hoạch để làm thuốc Tía tô dùng làm thuốc thường thu hoạch lúc có hoa, có hạt. Vì vậy, nên trồng thưa 25 x 30 cm.
Không hái lá dé cây ra nhiều hoa, nhiều hat. Ở miền Nam trồng từ tháng 11 đến tháng 2, có thé thu quả vào mùa thu. Cây thu xong phơi khô, lấy lá, quả cất riêng, cây có thê rửa sạch đất, phơi khô, bó thành từng bó, để trong bao bì rồi bán làm thuốc cùng với hạt và lá.3 Thu hoạch để làm giống Cây tía tô dùng làm giống cần trồng thư 30 x 35 em, có thể trồng chung để ăn, nhồ tỉa rồi dé cây tốt lại với khoảng cách nói trên. Cây làm giống không được hái lá, cắt cành.
Cần bón thúc lân vào thời gian 1 — 2 tháng sau khi trồng. Vào mùa thu, cây đã có hạt chắc, lá gia và khô dan, ta cat cả cành hoặc nhé cả cây về phơi trong mát, rũ lấy hạt, bỏ cành và tạp chất, cây dùng phơi khô làm thuốc. Hạt phơi khô lại vài nắng cho khô han (tránh phơi ngoài nắng to). Sau đó dé nguội, trộn ít tro cho vao lọ, chai, đậy chặt dé gieo cho vụ sau (Mai Văn Quyền và ctv, 2000).3 Giá trị y học của cây tía tô Tia tô có tính âm, vị cay, không độc.
Lá dùng làm gia vị rất phổ biến đồng thời là vị thuốc rất hay dùng dé trừ cảm mạo. Hat làm trà uống và thuốc hạ khí, cành làm thuốc an thai (Sở y tế, 2019). Phân tích sinh học cây Tia tô cho thấy loại cây nay có tác dụng kháng khuẩn, chống đị ứng, chống ung thư, chống khối u, chống trầm cảm, chống virus, chống hen suyén và chống oxy hóa.