Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu phụng 1.1 Nguồn góc và lịch sử phát triển Cây đậu phụng (Arachis hypogaea L.) có nguồn gốc trồng ở Châu Mỹ. Tuy nhiên về trung tâm khởi nguyên vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Theo Vũ Công Hậu cây đậu phụng được trồng phô biến ở Châu Âu, tới vùng bờ biển Châu Phi, Chau A, tới quần đảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng Đông Nam Hoa Kỳ. Krapovickas (1968) giả thuyết cây đậu phụng được đưa từ bờ biển tây Peru tới Mexico và sau đó ngang qua Thái Bình Dương theo các thương thuyền Tây Ban Nha tới Philippines và các vùng khác thuộc Châu Á - Thái Bình Dương.
Do ít mẫn cảm với thời gian chiếu sáng và có tính chịu hạn tốt nên đậu phụng được trồng ở nhiều quốc gia chiếu sáng và có tính chịu hạn tốt nên đậu phụng được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới từ 40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam (Nigam và ctv, 199]). Tại Việt Nam, lịch sử trồng đậu phụng chưa được xác minh rõ ràng. Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn (1979), cây đậu phụng có thể nhập từ Trung Quốc vao thé kỷ 17 - 18. Cây đậu phụng rất quan trọng ở vùng nhiệt đới bán khô hạn nơi có khoảng 2/3 sản lượng đậu phụng trên thế giới được sản xuất ra (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006).
Đậu phụng được trồng nhiều ở các nước An Độ, Trung Quốc, Mỹ, Senegan, Indonesia, Nigeria, Brazil, Argentina, Thai Lan, Việt Nam (Vũ Công Hậu va ctv, 1995).2 Giá trị dinh dưỡng Đậu phụng là loài cây hằng niên, có giá trị dinh dưỡng cao chứa nhiều đạm và dau, được sử dụng rộng rãi và trồng phô biến nhiều nơi trên thế giới, nó cũng là nguồn cung cấp vitamin E, F, Bị và Bo, PP (axit nicotimic), rất quan trọng, chứa nhiều Thiamine 3 va Niacin là nhưng chất có rất ít trong các loại hạt ngũ cốc khác. Đậu phụng là một trong những loại cây trồng đa dụng, vừa là cây công nghiệp trồng đề lấy dầu vừa là cây lương thực. Hầu hết các bộ phận của cây đậu phụng đều có giá trị sử dụng (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv, 1996). Bộ phận sử dụng chủ yếu của đậu phụng là hạt.
Với hàm lượng dầu cao, hạt đậu phụng là hạt lay dau quan trọng. Như vậy giá trị dinh dưỡng chủ yếu của hạt là lipit và protein. Trong công nghiệp ép dầu người ta thu được 2 sản phẩm chính là dầu thực phẩm và khô dầu, toàn bộ protein của hạt nằm ở khô dầu (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv, 1996).3 Đặc điểm hình thái Rễ: Rễ cọc, có nhiều rễ phụ, rễ cộng sinh với vi khuẩn tạo thành not san. Thân, cành: Thân phân nhánh từ gốc, có các cành tỏa ra, thân cây đậu phụng thông thường cao từ 30 - 100 cm tùy theo giống.
Hoa: Cụm hoa ở nách lá, gồm 2 - 4 hoa nhỏ, hoa màu vàng. Quả: Quả đậu phụng có dạng hình kén, một đầu dính vào thư đài khi khô cuống qua, dau kia gọi là mỏ quả, quả có 2 loại eo, eo bụng va eo lung.4 Yêu cầu sinh thái Do đặc tính sinh lý của cây đậu phụng, đất trồng phải đảm bảo cao ráo và thoát nước nhanh khi mưa to. Thành phần cơ giới là đất thịt nhẹ, đất cát pha, có độ từ pH từ 5,5-7. Nhiệt độ: Cây đậu phụng có nguồn gốc nhiệt đới nên thích hợp với khí hậu nóng am và ánh sáng đồi dao.
Theo Nguyễn Minh Hiếu (2010), tổng tích ôn của đậu phụng là 2.800°C thay đổi tùy giống. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho thời kỳ này mam là 28°C - 30°C, thời kỳ ra hoa là 24°C - 28°C, nhiệt độ thích hợp cho hình thành quả là 31°C - 33°C, thời kỳ chin là 24°C - 28°C. Ánh sáng: Đậu phụng là cây ưa sáng nhưng phản ứng với ánh sáng không chặt, cường độ ánh sáng có quan hệ hữu cơ với cường độ quang hợp, tuy không là yếu tố khí hậu ảnh hưởng sâu sắc nhưng ánh sáng vẫn có vai trò nhất định, đồng thời số giờ nắng trong ngày thích hợp tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát trién tốt. Âm độ, lượng mưa: đậu phụng thường được xem là một trong những cây trồng chịu hạn, nhưng chỉ ở mức tương đối ứng với thời kì sinh trưởng nhất định.
Tình trạng nước trong đất ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình sinh trưởng của cây đậu phụng tổng lượng nước cây đậu phụng cần từ mọc mầm đến thu hoạch từ 370 - 570 mm. Nhu cầu này thay đổi tùy giống và từng thời kỳ sinh trưởng, sử dụng nhiều nước ở giai đoạn đâm tia, hình thành quả hạt.3 Cơ sở khoa học và thực tiễn của bố trí mật độ gieo trồng cho cây đậu phụng Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất đậu phụng. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thé làm cho quan thé cây đậu phụng khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích (Đỗ Hữu Vĩ, 2015). Mật độ trồng thích hợp sẽ giúp cây sử dụng được tối đa các điều kiện của đồng ruộng từ đó giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó có thể tăng năng suất và tăng sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế.
Mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt. Dưới đất cây đậu phụng cạnh tranh nhau về nước, đinh dưỡng và khoảng trống trong dat dé phát triển quả, khi đất không cung cấp đủ cho nhu cầu của cây thì sẽ phát triển kém, quả sẽ nhỏ. Trên khoảng không gian, dé có thé lấy được ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác cây sẽ phải tăng trưởng chiều cao một cách tối đa, chính vì vậy sẽ làm cho cây yêu, sức chống chịu kém trước các điều kiện ngoại cảnh (Đỗ Hữu Vĩ, 2015). Đối với đậu phụng, trồng dày hàm lượng và hàm lượng dầu trong hạt cũng giảm thấp.
Trồng quá dày vừa lãng phí giống, đồng thời sẽ dẫn tới dẫn tới giảm số quả/cây, giảm kích thước, khối lượng hạt. Mật độ quá dày đồng nghĩa với việc sâu bệnh hại với mức độ lớn hơn (Trần Thị Thúy, 2015). Như vậy, phải tạo ra cấu trúc quan thể tốt, có lợi cho quang hợp. Muốn như vậy trong trồng trọt, mỗi loại cây trồng, giống cây trồng phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất đai, thời vụ và trình độ thâm canh đề định ra mật độ trồng thích hợp nhất dé điều kiến sinh trưởng và phát triển của quan thé theo hướng yêu cầu mục đích của người trồng trọt (Trần Kim Đồng và ctv, 1991; Đỗ Hữu Vĩ, 2015).4 Một số nghiên cứu về khoảng cách trồng cây đậu phụng 1.1 Kết quả nghiên cứu về khoảng cách trồng đậu phụng trên thế giới Khoảng cách trồng là một trong những yếu tố cau thành năng suất đậu phụng, trên thế giới nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tác động vào khoảng cách trồng là một trong những yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất dé tăng năng suất đậu phụng.
Zuboku va ctv (2019) đã được tiễn hành với mục tiêu xác định mật độ cây đậu phụng vùng wet Middleveld của Eswatim. Thử nghiệm được thực hiện tai Dai học Eswatinitrong. Các nghiệm thức bao gồm ba mật độ trồng (88.444 cây/ha và 29.630 cây/ha) thu được giá trị sinh khối khô cao nhất (13018 kg/ha) cao hơn 3859 kg/ha ở mật độ cây (29.44 cây/ha) thu được tỷ lệ vỏ cao nhất là 59,67% trong tỷ lệ vở thấp nhất (56%) thu được ở mật độ (88. Kết luận rằng cây đậu phụng với mật độ cây thấp cho năng suất cao hơn lạc ở luống có mật độ cây cao.
Do đó, người ta khuyến cáo rằng đậu phụng chỉ nên trồng trên với mật độ cây tăng sản lượng đậu phụng và dễ thu hoạch. Hamakareem và ctv (2016) đã thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của ba khoảng cách trồng đối với sinh trưởng và năng suất của cây đậu phụng (Arachis hypogaea L.) tại Sulaimani, Irag. Thí nghiệm bồ trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm ba khoảng cach (50 x 30 cm, 60 x 30 cm và 70 x 30 cm) và ba lần lặp lại. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu về sinh trưởng như điện tích lá, số cành, sinh khối cây, số quả/cây và năng suất hạt/cây khác biệt giữa các khoảng cách trồng.
Năng suất hạt/cây đạt cao nhất ở khoảng cách 60 x 30 em (21,1 g) trong khi đó thấp nhất là 50 x 30 cm (2,68 g). Ranaweera và Jaysundara (2004) nghiên cứu xác định giống đậu phụng chính sớm thích nghi ở khu vực Anuradhapura và Mahaweli, Sri Lanka. Kết quả cho thay năng suất đậu vỏ trung bình 4,1 mt/ha đối với giống ICGV 93261 ở 3 vụ, tăng 21% và 29% tương ứng so với giống ‘Tissa’ (3,4 Mt/ha) và Indi (3,2 Mt/ha). ICGV 93261 có năng suất cao hon ‘Indi’ là 31% ICGV 93261 trọng lượng 100 hat là 53 g, ‘Tissa’ là 46 g.
Nghiên cứu cho thấy giống ICGV 93261 có tiềm năng năng suất trong cả hai điều kiện tưới và nước trời trong vùng Anuradhapura va Mahaweli, An Độ. Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống đậu phụng thuộc kiểu hình Virginia được gieo trồng trong vụ xuân như Luhua 4, Hua 17 trên đất có độ phì trung 6 bình thì mật độ khoảng 220.000 cây/ha, còn đối với đất giàu dinh dưỡng mật độ là 200. Các giống đậu phụng thuộc loại hình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là 360. Mishra và ctv (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của giống và khoảng cách trồng đến năng suất của đậu phụng ở Surguja, Madhya Pradesh, Ấn Độ thu được kết quả: Giống Dh29 có năng suất cao nhất (2 tan/ha) so với JL24 (1,2 tan/ha) và J11 (1.
Khoảng cách trồng 30 x 15 cm có năng suất cao hơn so với các khoảng cách khác. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Kalra (1984) và Agasimani (1984). Giống Dh29 thích hợp trồng ở khoảng cách 30 x 20 em, giống J1 1 và JL24 trồng ở khoảng cách 30 x 15 cm. Boris và ctv (1997) so sánh năng suất của 2 giống đậu phụng 55 - 437 (truyền thong) và La Fleur 11 (mới), Senegal.
Năng suất của giống La Fleur 11 là 515,07 kg/ha, năng suất của giống 55 - 437 là 396,26 kg/ha, khi sử dụng ca 2 giống năng suất dat 413,31 kg/ha.