Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây cà pháo Ca pháo có tên khoa học là Solanum melongena var. depressum Bailey thuộc bộ Solanales, có tên tiếng Anh là Pickling eggplant. Theo Bukenya và Bonsu (2004), cà pháo có nguồn gốc từ châu Phi các giống hoang đại được tìm thấy đầu tiên ở Tây Phi và các vùng lân cận, trong đó có khoảng hơn 20 loài được công bồ.1 Đặc điểm thực vật học Theo Bukenya và Bonsu (2004), cà pháo có đặc điểm thực vật học như: Rễ: thuộc rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, rễ phụ phát triển mạnh. Thân: thuộc loại thân thảo, mọc thắng hay leo, có thé cao đến 1,5 m, có lông bao phủ, thân cây hóa gỗ ở gôc và có màu tím đen.
Lá: lá hình mác thuôn dài, kích thước 10 - 30 x 4 - 15 cm, thùy lá ngắn và rộng, cả hai mặt lá điều có lông tơ, mọc thành chùm hình sao bao phủ. Hoa: hoa có màu từ trắng đến tím, là hoa lưỡng tính. Hoa cái có phần phát hoa mở rộng, nhụy hoa ngắn, cuống hoa nhỏ, đài hoa hình chuông, hoa đực ngắn hơn, thường có từ 5 - 6 nhị, có cuéng nhỏ, đài hoa hình chuông, tràng hoa hình phéu tròn hoặc hình chuông, dai 2 - 3,5 cm, màu đỏ tia nhạt, có thể màu trắng, có lông bao phủ bên ngoài, bên trong nhẫn. Quả: quả hình cầu hơi nén xuống, kích thước 5 - 6 x 7 - 8 cm, có màu từ trắng, vàng cam đến tím, có nhiều hạt nhỏ.2 Yêu cầu ngoại cảnh Theo Mai Thị Phương Anh và ctv (1996), cà pháo có các yêu cầu ngoại cảnh: cà pháo nảy mầm ở nhiệt độ thích hợp là 25 - 30°C, ở nhiệt độ 13 - 14°C cà pháo sinh trưởng kém, khó nở hoa, tỉ lệ đậu quả thấp.
Cây cà pháo thích hợp với cường độ ánh sáng mạnh, độ dai ngày thích hợp cho sinh trưởng và phát dục là 10 - 12 giờ/ngày. Cà pháo chịu ung kém hơn chịu hạn, độ 4m dat thích hợp là 70% - 80%, độ 4m không khí là 45% - 60%. Cà pháo thích hợp trồng trên những đất tơi xốp, giàu mùn, giàu dinh dưỡng và có pH từ 6,5 - 7.3 Các thời kỳ sinh trưởng và phát dục của cây cà pháo Theo Mai Thị Phương Anh và ctv (1996), cà pháo có các thời kỳ sinh trưởng và phát dục: Thời kỳ nảy mầm (từ khi mọc đến 2 lá mầm): từ 7 - 12 NSG, yếu tố quan trọng nhất trong thời kì này là nhiệt độ, yêu cầu nhiệt độ 25 - 30°C, âm độ 70% - 80%. Thời kỳ cây con (từ khi cây có 2 lá mầm đến 4 - 5 lá thật): từ 35 - 40 NSG, các bộ phận trên mặt đất sinh trưởng chậm, bộ phận dưới mặt đất phát triển nhanh và rễ phát triển mạnh yêu cầu nhiệt độ 25 - 30°C, am độ đất 80%.
Thời kỳ ra hoa (từ khi cây có 4 - 5 lá thật đến khi có hoa đầu tiên): thời kỳ này thân sinh trưởng mạnh, tăng vượt trội so với thời kỳ cây con. Chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yêu tô ngoại cảnh, quyết định đến năng suất của cây. Thời kỳ quả (từ khi cây có hoa thứ nhất đến hình thành quả tập trung): sau khi mọc 7 - 9 lá cây bắt đầu cho quả và sau 80 - 100 ngày thì có thể thu hoạch quả đợt 1. Quả được hình thành một cách liên tục, quả tăng nhanh về kích thước và khối lượng, quả phát triển cân đối, mẫu mã đẹp.
Năng suất và chất lượng quả tốt nhất, phần trăm số quả thương pham cao. Thời kỳ già cỗi (từ sau quả rộ đến tàn): ở thời kỳ này sinh trưởng của thân, lá giảm nhanh chóng, hoa ít đậu quả, hình thành dạng quả không bình thường, phẩm chất kém, quả nhỏ, năng suất và chất lượng quả giảm rõ rệt.2 Khái quát về phân đạm 1.1 Định nghĩa về phân đạm Theo Đường Hồng Dat (2002), phân đạm là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây. Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây. Dam là nguyên tố tham gia vào thành phan chính của clorôphin, prôtit, các axit amin, các enzim và nhiêu loại vitamin trong cây.2 Vai trò của phân đạm đồi với cây trong Theo Bộ NN và PTNT (2019), đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng với cây.
Dam là nguyên tố tham gia vào thành phan chính clorôphin, prétit, peptit, các axit amin, các enzim và nhiều vitamin trong cây. Bón đạm thúc đây quá trình tăng trưởng của cây làm cho ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều. Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh. Thiếu đạm trong môi trường dinh dưỡng sinh trưởng cây bị ức chế, kém tạo cành, đẻ nhánh yếu, lá bé rễ kém phát triển.
Thiếu đạm lâu ngày sẽ làm cho protêin bị phân giải, diệp lục bị hủy hoại, xuất hiện trước hết ở các lá già bên dưới, sau lan lên các lá non bên trên và cuối cùng đến đỉnh sinh trưởng. Thiếu đạm làm giảm năng suất và phâm chat sản pham. Thiếu đạm cây có những thay đổi về ngoại hình rất rõ rệt, cây sinh trưởng rất kém, còi cọc cả bộ phận trên và dưới mặt đất. Lá cây chuyên sang màu vàng nhạt, cây đẻ nhánh, sinh chồi kém, diện tích lá, trọng lượng hoa, quả hạt đều giảm rõ rệt.
Tuy cây rất cần đạm, nhưng nếu bón đạm quá mức cần thiết cây sẽ sinh trưởng quá mạnh, vống lốp, dễ bị sâu bệnh gây hại, phẩm chất rau kém.3 Chu trình chuyển hóa đạm trong cây Dam được cây hap thu dưới dạng các ion NO: và NH¿” và dang urea. Trong đất đủ âm, ấm, thoát thủy tốt thì dạng NOs là dạng chiếm ưu thé trong dinh dưỡng của cây trồng. Sau khi được rễ cây hấp thu, trước khi NOs có thé được sử dung dé tông hợp protein hay các chất có chứa N, NOs" phải được khử thành NH4* hay NH; bên trong cây. Sự khử NOs" bao gồm hai phản ứng có sự xúc tác của enzyme xảy ra trong rễ hay trong lá hoặc ở cả hai nơi này, tùy thuộc vào loài thực vật.
Vì cả hai phản ứng xảy ra một cách liên tục nên nitrite (NOz)“ không tích lũy được (Lê Văn Dũ, 2009). NH3 hình thành trong phản ứng này được đồng hóa thành rất nhiều amino acids sau đó hình thành protein và các nucleic acids. Protein cung cấp một khung cấu trúc cho lục lạp, mitochondria và các cau trúc khác trong đó xảy ra hầu hết các phan ứng sinh hóa. Loại protein được hình thành được kiểm soát bởi mã di truyền chuyên biệt có trong nucleic acids, mã này quyết định số lượng và sự sắp xếp các amino acids trong mỗi protein.
Một trong những nucleic acids nay là deoxyribonucleic acid (DNA) hiện diện trong nucleus và mitochondria của tế bào, sự nhân đôi các thông tin di truyền trong chromosomes của tế bao cha me cho các tế bao trong con cái. Ribonucleic acids (RNA), hiện diện trong nucleus và cytoplasm của tế bào thực hiện việc xây dựng mã bên trong các phân tử DNA. Hầu hết các enzyme kiểm soát các tiến trình trao đối chất này là các proteins. Các protein chức năng này không hoàn toàn bền vững chúng liên tục bị phân giải và tái tổng hợp (Lê Văn Dũ, 2009).4 Các loại phân đạm thường dùng Theo Đường Hong Dat (2002), có các loại phân đạm thường dùng: Phân Urea (CO(NH2)2: phân Urea có 44 - 48% N nguyên chất.
Loại phân này chiếm 59% tổng số các loại phân đạm được sản xuất ở các nước trên thế giới. Urea là loại phân có tỉ lệ N cao nhất. Trên thị trường có bán 2 loại phân urea có chất lượng giống nhau: Thứ nhất là loại tinh thé mau trắng hạt tròn, đễ tan trong nước, có nhược điểm là hút 4m mạnh. Loại thứ hai có dạng viên nhỏ như hình trứng cá.
Loại này có thêm chất chống 4m nên dé bảo đảm, dé vận chuyên và được dùng nhiều trong sản xuất nông nghiệp. Phân urea có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên nhiều loại đất khác nhau và đối với các loại cây trồng khác nhau. Phân urea được dùng dé bón thúc, có thé pha loãng theo nồng độ 0,5 - 1,5% dé phun lên lá. Phân amôn nitrat (NHxNO:): phân amôn nitrat có chứa 33 - 35% N nguyên chat.
Ở các nước trên thé giới loại phân chiếm 11% tổng số phân đạm được sản xuất hang năm. Phân này ở dưới dang tinh thé muối kết tinh, có màu vàng xám. Amon nitrat dé chảy nước, dễ tan trong nước, dễ vón cục, khó bảo quản và khó sử dụng. Đây là loại phân sinh lý chua.
Tuy vậy, loại phân này rất quý vì có chứa cả NH¿” va NOs. Phân sunphat đạm (NH4)zSOx: phân sunphat dam còn gọi là phân SA, có chứa 20 - 21% N nguyên chất. Trong phân này còn có 29% lưu huỳnh (S). Trên thế giới loại 6 phân này chiếm 8% tổng lượng phân hóa học sản xuất hàng năm.
Phân sunphat đạm có dang tinh thé, min, mau trang ngà hoặc xám xanh. Phân có mùi nước tiểu (mùi amôniac), vị mặn và hơi chua. Cho nên nhiều nơi gọi là phân muối diêm. Phân này dễ tan trong nước, không von cục, thường ở trong trang thái tơi rời, dé bảo quản, dé sử dụng.
Có thé bón sunphat đạm cho tất cả các loại cây trồng, trên nhiều loại đất khác nhau, miễn là đất không bị phèn, bị chua. Nếu đất chua cần bón thêm vôi, lân mới dùng được đạm sunphat amôn. Phân này dùng tốt cho cây trồng trên đất đôi, trên loại đất bạc màu (thiếu S). Đạm sunphat được dùng chuyên bón cho các loại cây cần nhiều S và it N như những cây họ đậu, các loại cây vừa cần nhiều S, vừa cần nhiều N như ngô.
Cần lưu ý là đạm sunphat là loại phân có tác dụng nhanh chóng phát huy tác dụng đối với cây trồng, cho nên thường dùng dé bón thúc và bón thành nhiều lần đề tránh mat đạm. Khi bón cho cây con cần chú ý là phân này dễ gây cháy lá. Không nên sử dụng phân đạm sunphat đề bón trên đất phèn, vì phan dé làm chua đất thêm. Phân đạm clorua (NH4Cl): phân này chiếm 24 % - 25% N nguyên chat, có dạng tỉnh thể mịn, màu trắng hoặc vàng ngà.
Phân này dễ tan trong nước, ít hút am, không bi von cục, thường tơi rời nên dé sử dung, dam clorua là loại phân sinh lý chua, vi vậy, nên bón kết hợp với lân và các loại phân bón khác. Không nên sử dung dé bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi, bắp cải, vừng.