MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, ngành nông nghiệp Việt Nam có nhiều vận hội mới đồng thời cũng có nhiều thách thức lớn. Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa nên nông nghiệp nước ta với những quốc gia có nền nông nghiệp phát triển. Để tăng năng suất và sản lượng cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng là đòi hỏi cấp thiết của nông nghiệp nước ta, đồng thời chúng ta phải xây dựng cho được chiến lược phát triển nền nông nghiệp hiện đại có tính bền vững cao.
Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [3]. Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hyđrat cacbon từ 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống (Phạm Văn Thiều, 2006) [7].
Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Protein của hạt đậu tương không những có hàm lượng cao mà còn có đầy đủ và cân đối các axit amin cần thiết. Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60 -70%), có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52- 65%, axit oleic chiếm 25 - 36%, axit lonolenoic chiếm 2 - 3%. Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [7].
Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng n 2 sinh thái trong cả nước. Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất (69425 ha) chiếm 37,10% tổng diện tích đậu tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,30 tạ/ha (Cục Trồng Trọt, 2006) [2]. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất đậu tương ở trung du miền núi thấp như chưa có bộ giống tốt phù hợp, mức đầu tư thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa hợp lý. Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống và biện pháp kỹ thuật là yếu tố cản trở chính đến năng suất đậu tương.
Kết quả điều tra giống năm 2003 - 2004 của Cục Trồng Trọt (2006) [2] cho thấy: Trung du miền núi phía Bắc là một trong ba vùng trồng nhiều giống đậu tương địa phương và ít giống mới nhất (37,5 - 38,4% diện tích trồng giống địa phương). Trong những năm gần đây, nước ta đã nhập nội được nhiều giống đậu tương. Tuy nhiên những giống có khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao còn hạn chế. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, để chọn ra những dòng thích hợp dùng để làm vật liệu cho chọn tạo giống, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng, giống đậu tương trong vụ xuân tại Thái Nguyên” 1.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Đánh giá đặc điểm hình thái của một số dòng, giống đậu tương. - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của một số dòng, giống đậu tương. - Đánh giá khả năng cho năng suất của một số dòng, giống đậu tương.
- Đánh giá khả năng chống chịu của một số dòng, giống đậu tương. Yêu cầu - Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Theo dõi đặc điểm hình thái như (dạng cây, hình dạng lá, màu sắc hoa, màu sắc vỏ hạt…) của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Theo dõi đặc điểm sinh trưởng như (chiều cao cây, số cành cấp 1, đường kính thân) của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
- Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất như (số quả chắc/cây, số quả 1 hạt/cây, số quả 2 hạt/cây, số quả 3 hạt/cây, khối lượng 1000 hạt, NSLT, NSCT, NSTT) của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Theo dõi khả năng chống chịu sâu bệnh như (sâu cuốn lá, sâu đục quả…) của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học Để đáp ứng nguồn lương thực, thực phẩm cho nhân loại toàn cầu trong bối cảnh khí hậu, môi trường sống ngày càng nhiều biến đổi phức tạp, chúng ta cần xây dựng cho được một nền sản xuất tiên tiến. Sản xuất dựa trên cơ sở áp dụng một cách khoa học giữa các yếu tố giống, phân bón, nước, kỹ thuật thâm canh, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường. Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu, bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu hàng đầu của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao. Đậu tương được sản xuất với các mục tiêu khác nhau.
Cho nên công tác chọn tạo giống cần tập trung vào một số mục tiêu: - Giống cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng. - Giống cho chất lượng hạt tốt phục vụ ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu. - Giống có hàm lượng dầu cao phục vụ cho sản xuất dầu thực vật. Điều kiện khí hậu, đất đai của Việt Nam rất thuận lợi cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển.
Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của các loài cây bệnh hại. Bởi vậy, khi sản xuất cần phải áp dụng các biện pháp canh tác thích hợp, nhằm phát huy, khai thác n 5 tối đa tiềm năng năng suất của giống. Đồng thời tiến hành nghiên cứu chọn tạo cho được những giống thích hợp cho từng vùng sinh thái. Cơ sở thực tiễn của đề tài Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng diện tích đất hoang hóa còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng trọt một số loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp.
Do đó việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết, nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Mặc dù cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc nhưng khả năng thích ứng rộng nên nó được phân bố khá rộng từ 40 0 Vĩ Bắc đến 40 0 Vĩ Nam (Ths.
Ma Thị Phương, 2004). Hiện nay có khoảng 78 nước trồng đậu tương. Tuy Châu Á là nơi nguyên sản của cây đậu tương nhưng nó lại được trồng tập trung ở Châu Mỹ với 70,03%. Châu Á chỉ có 23,5%, còn lại ở các châu lục khác.
Hiện nay, cây đậu tương đã được đem trồng ở khắp các Châu lục và là cây lấy hạt, lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới. Vì vậy cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất.Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng đậu tƣơng trên thế giới 5 năm gần đây (2010-2014) Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 102,8 25,8 265,0 2011 103,8 25,2 261,6 2012 105,5 22,9 241,7 2013 111,2 25,0 277,7 2014 117,5 26,1 306,5 (nguồn: FAO statistic database, 2016 )[13] Qua bảng 2.1 cho thấy: Về diện tích: trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương có những biến động nhỏ, dao động từ 102,8 - 117,5 triệu ha. Năm 2015 đạt diện tích cao nhất với 117,5 triệu ha và thấp nhất là năm 2010 với 102,8 triệu ha. Về năng suất: năng suất đậu tương trên thế giới trong những năm vừa qua biến động, tăng, giảm thất thường.
Năm 2014 năng suất đậu tương đạt cao nhất là 26,1 tạ/ha và thấp nhất là năm 2012 là 22,9 tạ/ha. Về sản lượng: sản lượng đậu tương trên thế giới trong những năm vừa qua có những biến động. Nhìn chung từ năm 2010 đến năm 2013 sản lượng đậu tương trên thế giới giảm từ 265,0 triệu tấn đến 241,7 triệu tấn. Nhưng đến năm 2013 - 2014 tăng lên, dao động từ 277,7 - 306,5 triệu tấn.
Sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh như vậy nguyên nhân là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên, do người trồng đậu tương đã tìm ra được bộ giống thích hợp và ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất. Trên thế giới, sản xuất đậu tương chủ yếu tập trung như: Mỹ, Braxin, Trung Quốc, Achentina (Phạm Văn Thiều, 2006) [7]. Trước năm 1970 chỉ có n 7 Mỹ và Trung Quốc là 2 nước sản xuất đậu tương lớn nhất trên thế giới. Tốc độ phát triển đậu tương ở Mỹ nhanh hơn ở Trung Quốc.
Sản lượng đậu tương của Mỹ trên thế giới tăng từ 60% năm 1960 lên đỉnh cao là 75% năm 1969, trong khi sản xuất đậu tương của Trung Quốc giảm từ 32% đến 16% trong cùng thời kì. Hiện nay Mỹ vẫn là quốc gia sản xuất đậu tương đứng đầu thế giới với 45% diện tích và 55% sản lượng. Theo số liệu điều tra từ bảng 2.2 cho thấy tình hình sản xuất đậu tương của Mỹ tăng cả về diện tích, năng suất cũng như sản lượng. Năm 2012 diện tích của Mỹ đạt 30,8 (triệu ha) đến năm 2014 đạt 33,4 (triệu ha), năm 2012 sản lượng đậu tương đạt 82,8 (triệu tấn) và đến năm 2014 đạt 106,9 (triệu tấn) tăng gần gấp 1,3 lần.
Braxin là nước đứng thứ 2 ở châu Mỹ và cũng đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương.