Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học Quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của cây trồng phụ thuộc chủ yếu vào tác dụng tổng hợp của 4 yếu tố: ánh sáng, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng. Trong điều kiện sản xuất, việc điều khiển các yếu tố để tăng cường sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng rất khác nhau. Điều khiển chế độ nước, dinh dưỡng dễ dàng hơn và thực tế người ta coi phân bón là đòn bẩy tăng năng suất cây trồng.
Cùng với cuộc cách mạng xanh về giống, nền nông nghiệp thâm canh ra đời đã vận dụng tối đa tác dụng của phân bón. Các đặc tính của giống cây trồng được quyết định không những bởi môi trường và sự chọn lọc (tự nhiên và nhân tạo) đã tác động lên thành phần di truyền, mà còn được quyết định bởi tính chất phong phú hay nghèo nàn của thành phần di truyền giống đó. Muốn khẳng định giống mới có ưu thế hơn các giống khác thì phải qua khảo nghiệm và đánh giá một cách cụ thể và chi tiết các loại giống. Mặt khác, mỗi loại giống cây trồng nói chung và đậu cô ve nói riêng phù hợp với một điều kiện đất đai, thời tiết và điều kiện ngoại cảnh nhất định.
Trong sản xuất cần nắm vững các đặc trưng và đặc tính của giống để từ đó có biện pháp kỹ thuật tác động thích hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Tuy vậy trong thực tế sản xuất nhiều năm qua ở nước ta nông dân chưa thực sự chọn tạo được giống phù hợp với điều kiện của địa phương. Vì vậy việc chọn tạo, khảo nghiệm giống mới là cần thiết và cần được duy trì liên tục.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu về giống Sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở áp dụng một cách khoa học giữa các yếu tố giống, phân bón, nước, kĩ thuật thâm canh, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tránh ô nhiễm môi trường. Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu, bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu quan trọng của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao.
Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng 5 chúng hợp lí, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu đất đai, kinh tế xã hội. Để có những giống có năng suất cao,chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kĩ thuật khác. Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kĩ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu phân bón Giống mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất cao nhất khi được bón đầy đủ và hợp lí.
FAO đã tổng kết bón phân không cân đối làm giảm hiệu suất sử dụng 20-50%. Kết quả trong thí nghiệm và mô hình ở nước ta trong mấy năm qua cho thấy nếu NPK cân đối so với chỉ bón đạm, năng suất lúa trên đất bạc màu có thể tăng 100 – 200%. Kỹ nghệ phân bón không chỉ chú ý đến đạm, lân, kali mà phải chú ý đầy đủ đến các nguyên tố khác như lưu huỳnh( S ), magie( Mg ), với các nguyên tố vi lượng như: Mo, Bo, Mn, Fe… Tuy nhiên, bón nhiều phân chưa hẳn đã tốt, nồng độ hóa học cao có thể gây hại đối với cây trồng đồng thời ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe con người. Cây trồng cũng như các sinh vật khác có những giới hạn chịu đựng nhất định, vượt quá giới hạn đó có thể bị hủy hoại.
Bón một lượng phân lớn vượt quá nhu cầu của cây còn gây ra lãng phí, tồn dư trong đất và sản phẩm tăng. Trong nhiều trường hợp, năng suất cây trồng cao chưa hẳn đảm bảo hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm giảm. Phân bón thường mang lại hiệu quả kinh tế cao khi lượng phân sử dụng hợp lý. Trong những giới hạn xác định, năng suất cây trồng tăng khi phân bón tăng.
Tiếp tục tăng lượng phân, năng suất tiếp tục tăng nhưng hiệu quả kinh tế bắt đầu giảm xuống, đến một giới hạn nào đó, cả năng suất và hiệu quả kinh tế giảm xuống đến lúc không còn hiệu quả nữa. Bón phân hợp lý là tìm ra lượng phân bón thích hợp để vừa đạt năng suất cao, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón (hình 1. 6 Mỗi một nguyên tố dinh dưỡng có những vai trò nhất định đối với quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng. Trong đó, đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của protein - chất cơ bản biểu hiện sự sống.
Năng suất cây trồng Năng suất - Hiệu quả Hiệu quả kinh tế Lượng phân hợp lý Lượng phân bón Hình 1.1: Đồ thị năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế của lượng phân bón sử dụng Nguồn: Đường Hồng Dật [5]. Mặt khác, chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30% - 50%. trong đó, mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đặt năng suất tối đa mà còn tìm lợi nhuận cao nhất. cho nên con người phải tìm đến những biện pháp kỹ thuật bón phân cân đối hợp lý cho từng loại cây trồng khác nhau.
Bón phân vô cơ là rất tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tuy nhiên nếu bón không đúng nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly không đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng dư lượng NO3- trong sản phẩm vượt quá ngưỡng cho phép ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và sức khỏe người tiêu dùng. Vì vậy, trong việc sử dụng phân đạm, kali hay bất cứ loại phân nào khác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng, loại đất, nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau…đồng thời, bón đúng chủng loại, đúng lúc đúng cách đúng nông độ, liều lượng, đảm bảo hời gian cách ly. Như vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo vệ môi trường.2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và VN 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới Hiện nay trên thế giới có nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích trồng rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân(Mai Phương Anh và cs, 1996) [1]. Năm 1961-1965 tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn, nhưng từ năm 1971-1975 tổng lượng rau đạt293.657 tấn và từ năm 1981-1985 là 392.060 tấn, đến năm 1996 đã lên đến 565.
Như vậy chúng ta thấy sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng. Trong nhiều năm gần đây, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng, số liệu FAO được thống kê và được trình bày tại bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2008 – 2014 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2008 52,81 188,413 994,98 2009 54,03 188,629 1019,10 2010 55,72 188,210 1048,71 2011 56,81 191,371 1087,12 2012 57,27 193,133 1106,13 2013 58,67 195,176 1237,16 2014 59,84 196,103 1334,11 (Nguồn: FAOSTAT, 2016)[27] Theo thống kê của FAO, diện tích trồng rau năm 2008 là 52,81 triệu ha nhưng đến năm 2014 đã mở rộng lên tới 59,84 triệu ha, tăng so với năm 2008 là 7,03 triệu ha, tăng 13,31% so với năm 2008. Như vậy, diện tích trồng rau trên thế giới đang tăng lên, nguyên nhân là do người nông dân đang chuyển một phần diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi sang trồng rau. Năng suất rau bình quân trên thế giới không biến động nhiều đạt từ 188,413 – 196,103 ta/ha qua 7 năm, bởi diện tích trồng rau hiện nay không tập trung về tăng năng suất mà chú trọng hơn đến viêc tăng chất lượng sản phẩm.
Về sản lượng rau hàng năm thu được theo chiều hướng tăng dần tính đến năm 2014 đạt 1334,11 triệu tấn, tăng hơn so với năm 2008 là 339,13 triệu tấn, tương đương 34,08%. Sở dĩ trong những năm từ 2008 đến năm 2011 sản lượng rau 8 tăng nhanh như vậy là do diện tích trồng trong những năm gần đây tăng lên và do người trồng rau đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến đến phục vụ sản xuất.2: Tình hình sản xuất rau Châu Á Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm ( ha) (tạ/ha) ( tấn) 2008 38.3: Tình hình sản xuất rau Trung Quốc Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm ( ha) (tạ/ha) ( tấn) 2010 23.164 (Nguồn: FAOSTAT, 2016)[27] Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất thế giới ,cao hơn nhiều so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác. Ở Châu Á, Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, tiếp đến là Ấn Độ, còn ở nước ta sản lượng rau ở mức thấp nhất. Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hóa chất tồn đọng trong rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn.
9 Về tiêu thụ rau trên thế giới theo FAO dự báo trong thời gian tới hàng năm tăng bình quân 3,6%, trong khi tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 2,8%, như vậy thị trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ. Trong những năm qua nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8% mỗi năm. Các nước và vùng lãnh thổ có nhu cầu nhập khẩu rau cao đó là Pháp, Đức,Canada. Một số nước có lượng rau xuất khẩu lớn nhất trên thế giới đó là Trung Quốc, Italia, Hà Lan.
Theo dự báo của FAO ước tính đến năm gần đây giá xuất khẩu rau tươi tăng cao, như vậy rau tươi là một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị, hơn nữa nhu cầu rau trên thế giới ngày một tăng, bởi vậy rau có vị trí lớn trên thị trường thế giới.