Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây đậu phụng (Arachis hypogaea L.) thuộc họ Đậu (Fabaceae), là cây công nghiệp ngắn ngày và cây lấy dầu giữ vị trí quan trọng tại Việt Nam về diện tích, sản lượng cũng như tiềm năng xuất khẩu. Ngoài giá trị thực phẩm giàu lipit, protein, vitamin và cung cấp phụ phẩm giá trị cao cho ngành chăn nuôi, cây đậu phụng còn giữ vai trò cải tạo đất canh tác nhờ hoạt động cộng sinh của vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) có khả năng cố định nitơ tự do từ khí quyển.
Vùng đất xám tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là loại đất cát pha thịt có phản ứng chua nhiều, nghèo kiệt chất hữu cơ, đạm tổng số và lân dễ tiêu rất thấp. Canh tác đậu phụng trên vùng đất này thường đối mặt với hiện tượng cây sinh trưởng kém, nốt sần phát triển hạn chế, tỷ lệ quả lép và quả rỗng cao. Trong kỹ thuật canh tác truyền thống, kinh nghiệm dân gian đã đúc kết "Không lân không vôi thì thôi không đậu". Lân đóng vai trò kích thích hệ rễ phát triển, đẩy mạnh hoạt động của nốt sần, gia tăng khả năng ra hoa và làm chắc hạt. Canxi (vôi) là dưỡng chất khoáng trung lượng có khả năng nâng cao pH đất, giải độc nhôm, hạn chế hiện tượng rỗng hạt, thối đáy quả và hỗ trợ quá trình đâm tia tạo quả. Tuy nhiên, việc thiếu hụt quy trình bón phân cân đối giữa lân và canxi cụ thể cho giống đậu phụng mới trên loại đất này dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa tối ưu.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học của tác giả Đàm Thị Thu Hiền, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Văn Thịnh tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, đã nghiên cứu đề tài: "Ảnh hưởng của lượng phân lân và canxi đến sinh trưởng, năng suất cây đậu phụng (Arachis hypogaea L.) trồng trên vùng đất xám Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh".
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xác định được lượng phân lân và canxi thích hợp cho cây đậu phụng sinh trưởng tốt, năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế ở vụ Xuân Hè trên vùng đất xám Thủ Đức.
- Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:
- Bố trí thí nghiệm đồng ruộng và theo dõi các đặc điểm sinh trưởng, phát triển, mức độ sâu bệnh hại và các yếu tố cấu thành năng suất theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-57:2011/BNNPTNT.
- Lượng toán hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm thông qua tổng chi phí, tổng thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
- Thu thập, tổng hợp, phân tích phương sai và xử lý số liệu thống kê sinh học bảo đảm độ tin cậy khoa học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây đậu phụng giống L29 (chọn lọc từ tổ hợp lai L18 × L16 do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn tạo).
- Phạm vi không gian: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (khu vực Thủ Đức).
- Phạm vi thời gian: Vụ Xuân Hè 2023, theo dõi từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 7 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên các nguyên lý sinh lý dinh dưỡng khoáng của cây họ đậu. Cây đậu phụng có đặc tính hấp thu dinh dưỡng mạnh nhất vào giai đoạn từ ra hoa rộ đến làm quả và hạt; thời kỳ này chỉ chiếm khoảng 20% chu kỳ sinh trưởng nhưng hấp thu tới 42% nhu cầu N, 46% nhu cầu P và 65% nhu cầu K, đồng thời đòi hỏi lượng lớn canxi, magiê, lưu huỳnh. Cây hấp thu lân hoàn toàn từ đất để thúc đẩy phân cành hữu hiệu, hình thành màng tế bào, tích lũy lipit và phát triển nốt sần. Khác với nhiều nguyên tố khoáng di động, canxi là nguyên tố rất ít di động trong cây (tập trung 80 - 90% ở lá). Khi đâm tia xuống đất, đầu thư đài và quả non hấp thu canxi trực tiếp từ dung dịch đất xung quanh để cấu tạo vỏ quả và nuôi nhân hạt. Bón canxi dưới dạng vôi bột (CaO) còn có tác dụng trung hòa độ chua, nâng pH đất, hạn chế tích lũy cation nhôm độc hại và tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố định đạm.
Khung quy chuẩn áp dụng bao gồm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu phụng (QCVN 01-57:2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và các tiêu chuẩn phân tích đất TCVN (TCVN 5979:2007, TCVN 4401:1987, TCVN 8941:2011, TCVN 6498:1999, TCVN 8942:2011) dựa trên phân loại của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA, 1960).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng:
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm hai yếu tố được bố trí theo kiểu ô phụ (Split Plot Design - SPD) với 3 lần lặp lại:
- Yếu tố lô chính (Canxi - ký hiệu C): Gồm 4 mức: C1 = 200 kg CaO/ha (đối chứng), C2 = 300 kg CaO/ha, C3 = 400 kg CaO/ha, C4 = 500 kg CaO/ha.
- Yếu tố lô phụ (Phân lân - ký hiệu P): Gồm 4 mức: P1 = 60 kg P2O5/ha, P2 = 90 kg P2O5/ha (đối chứng), P3 = 120 kg P2O5/ha, P4 = 150 kg P2O5/ha.
- Quy mô thí nghiệm: Gồm 16 nghiệm thức kết hợp, tổng cộng 48 ô cơ sở (16 nghiệm thức × 3 lần lặp lại). Diện tích mỗi ô là 10 m² (dài 4 m × rộng 2,5 m), luống cao 25 - 30 cm, rãnh giữa các ô rộng 0,5 m, khoảng cách giữa các lần lặp lại là 1 m. Tổng diện tích khu thí nghiệm tính cả hàng bảo vệ là 573,75 m².
- Quy trình canh tác và nền phân bón chung:
- Nền phân chung cho toàn bộ thí nghiệm tính trên 1 ha gồm: 1.000 kg phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, 40 kg N (tương đương 87 kg phân urê 46% N), 80 kg K2O (tương đương 160 kg phân K2SO4 50% K2O, 18% S).
- Phân lân sử dụng Super lân Lâm Thao (16% P2O5, 10% S); canxi sử dụng vôi bột (80% CaO).
- Khoảng cách gieo: 35 × 10 cm, gieo 2 hạt/hốc, mật độ đạt 56 cây/m², độ sâu lấp hạt 3 - 4 cm.
- Chế độ bón: Bón lót toàn bộ phân hữu cơ vi sinh, toàn bộ vôi, toàn bộ phân lân và 1/2 lượng N. Bón thúc lần 1 ở 15 ngày sau gieo (NSG) gồm 1/2 N + 1/2 K2O kết hợp làm cỏ, xới xáo; bón thúc lần 2 ở 45 NSG gồm 1/2 K2O còn lại kết hợp vun gốc cao.
- Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập:
- Dữ liệu khí tượng thu nhận từ Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ.
- Dữ liệu đặc tính lý hóa đất do Bộ môn Khoa học Đất - Phân bón thuộc Khoa Nông học phân tích trước khi xuống giống.
- Dữ liệu sinh trưởng và năng suất theo dõi trực tiếp trên 10 cây mẫu/ô theo phương pháp 5 điểm chéo góc cố định.
- Chỉ tiêu nốt sần được đào và đếm ngẫu nhiên ở thời điểm 60 NSG.
- Năng suất quả khô quy đổi về độ ẩm tiêu chuẩn 12% theo công thức quy chuẩn.
- Xử lý số liệu: Dữ liệu được tổng hợp trên Microsoft Excel; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa α = 0,05 bằng phần mềm chuyên dụng SAS phiên bản 9.0.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày hệ thống lý thuyết về phân loại thực vật học, sinh lý phát triển, giá trị kinh tế và tình hình sản xuất cây đậu phụng. Giống đậu phụng trồng phổ biến thuộc loài Arachis hypogaea L., bộ nhiễm sắc thể tứ bội 2n = 4x = 40. Tác giả tổng hợp đặc điểm 3 nhóm chính theo phân loại của Gibbons và Hammons (1977): Spanish (thân đứng, chín sớm, 2 hạt/quả, vỏ mỏng), Runner (thân bò, quả to, sinh trưởng dài trên 150 ngày), và Virginia (thân nửa đứng nửa bò, năng suất cao, yêu cầu canxi cao). Về mặt sinh học, hoa đậu phụng thụ phấn tự nhiên (99,0 - 99,9% tự thụ); sau khi thụ tinh, mô phân sinh dưới đáy bầu nhụy phát triển thành thư đài (tia quả) đâm xuống đất theo tính hướng địa sâu 7 cm để hình thành quả trong điều kiện tối và đủ ẩm.
Tác giả nêu rõ giá trị dinh dưỡng của hạt đậu phụng gồm 40,2 - 60,7% lipit (chủ yếu là axit béo chưa no), 20,0 - 33,7% protein cùng các vitamin nhóm B, PP, E. Về tình hình sản xuất, số liệu FAOSTAT giai đoạn 2018 - 2021 cho thấy diện tích đậu phụng toàn cầu dao động từ 29,6 đến 32,7 triệu ha, năng suất trung bình đạt 1,60 - 1,77 tấn/ha. Tại Việt Nam, diện tích sản xuất giai đoạn 2018 - 2021 có xu hướng giảm dần từ 185,9 nghìn ha xuống nhưng năng suất tăng lên mức 2,6 tấn/ha (năm 2021).
Về nhu cầu dinh dưỡng, chương tổng quan phân tích sâu vai trò của lân trong việc tăng sinh nốt sần, kích thích rễ phụ và giảm tỷ lệ quả lép; phân tích vai trò của canxi giúp tăng độ chắc nhân, chống thối quả và nâng cao độ pH đất xám chua. Các nghiên cứu trước đây (Trần Văn Lài, Vũ Công Hậu, Đường Hồng Dật) chỉ ra rằng thiếu canxi làm vỏ hạt xốp, đáy quả thối đen, trong khi bón thừa trên 600 kg vôi/ha trên đất bạc màu có thể làm giảm năng suất do ức chế hấp thu vi lượng mangan (Mn).
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện thực địa, tính chất lý hóa đất, vật liệu thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu. Về thời tiết trong giai đoạn thử nghiệm (tháng 3 đến tháng 6/2023), tổng số giờ nắng dao động từ 182,6 đến 246,4 giờ/tháng, nhiệt độ trung bình 28,3 - 30,4°C; tháng 3 và tháng 4 hầu như không mưa, lượng mưa tập trung cao vào tháng 6 (316,7 mm), độ ẩm không khí 73 - 79%.
| Chỉ tiêu phân tích đất |
Phương pháp phân tích |
Đơn vị |
Kết quả |
Đánh giá tính chất đất |
| Cát |
Tỉ trọng kế |
% |
82 |
Sa cấu cát pha thịt |
| Thịt |
Tỉ trọng kế |
% |
10 |
Tỷ lệ hạt mịn thấp |
| Sét |
Tỉ trọng kế |
% |
8 |
Khả năng giữ nước kém |
| pH H2O (1:5) |
TCVN 5979:2007 |
- |
5,7 |
Đất chua |
| pH KCl (1:5) |
TCVN 4401:1987 |
- |
4,9 |
Phản ứng chua nhiều |
| Chất hữu cơ |
TCVN 8941:2011 |
% |
1,21 |
Nghèo hữu cơ |
| Đạm tổng số (N) |
TCVN 6498:1999 |
% |
0,05 |
Hàm lượng đạm rất thấp |
| Lân dễ tiêu (P2O5) |
TCVN 8942:2011 |
mg/100 g |
13,1 |
Hàm lượng lân thấp |
Giống đậu phụng thử nghiệm là L29 có thời gian sinh trưởng 90 - 100 ngày, số quả đạt 15 - 25 quả/cây, khối lượng 100 hạt khoảng 53 g, năng suất tiềm năng 3,0 - 3,5 tấn/ha. Chương này chuẩn hóa quy trình kỹ thuật theo QCVN 01-57:2011/BNNPTNT, công thức tính toán độ ẩm quy chuẩn 12%, phương pháp tính năng suất thực thu và công thức hạch toán hiệu quả kinh tế (Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi; Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận / Tổng chi).
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ 16 nghiệm thức và thảo luận về mặt nông học:
- Đặc điểm sinh trưởng thân lá: Chiều cao cây tăng dần theo các giai đoạn theo dõi (15, 25, 35, 45 và 55 NSG). Tại 15 NSG, chiều cao cây biến động từ 6,0 đến 6,1 cm; tại 55 NSG đạt 50,4 đến 54,0 cm. Phân tích ANOVA cho thấy các liều lượng canxi, phân lân và tương tác giữa chúng không làm thay đổi chiều cao cây có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, số cành cấp 1 bị chi phối bởi lượng phân lân: mức bón 90 kg P2O5/ha đạt số cành cấp 1 cao nhất (5,4 cành/cây), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với mức bón 60 kg P2O5/ha (5,3 cành/cây), trong khi canxi không ảnh hưởng đến số cành. Về số lá, tại thời điểm 45 NSG, lượng canxi tác động có ý nghĩa thống kê: nghiệm thức bón 400 kg CaO/ha đạt số lá cao nhất (56,1 lá/cây), cao hơn rõ rệt so với đối chứng 200 kg CaO/ha (52,4 lá/cây).
- Khả năng hình thành nốt sần và tích lũy chất khô: Canxi thể hiện vai trò quyết định đối với hệ vi sinh vật nốt sần. Ở giai đoạn 60 NSG, mức bón 400 kg CaO/ha cho tổng số nốt sần cao nhất (635,6 nốt sần/cây) và số nốt sần hữu hiệu cao nhất (503,5 nốt sần hữu hiệu/cây), khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) so với mức đối chứng 200 kg CaO/ha (452,8 tổng nốt sần và 367,2 nốt sần hữu hiệu). Tỷ lệ nốt sần hữu hiệu dao động từ 79,6% đến 84,9% nhưng sai khác không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức. Khả năng tích lũy chất khô thân lá đạt cao nhất ở mức bón 400 kg CaO/ha (1,2 kg/m²), vượt trội so với đối chứng (0,9 kg/m²).
- Mức độ sâu bệnh hại: Hai đối tượng dịch hại chính xuất hiện trên ruộng là sâu ăn lá và bệnh đốm nâu. Tỷ lệ sâu ăn lá dao động từ 9,8% đến 10,9%; tỷ lệ bệnh đốm nâu dao động từ 20,0% đến 20,9%. Sự khác biệt giữa các mức phân lân, canxi và tương tác không có ý nghĩa thống kê và mật độ sâu bệnh ở mức nhẹ, không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây.
- Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu:
| Chỉ tiêu cấu thành năng suất |
Đối chứng C1 (200 kg CaO/ha) |
Mức C2 (300 kg CaO/ha) |
Mức C3 (400 kg CaO/ha) |
Mức C4 (500 kg CaO/ha) |
Ý nghĩa thống kê (Canxi) |
| Tổng số quả (quả/cây) |
35,5 |
40,6 |
44,2 |
37,8 |
Khác biệt có ý nghĩa (p < 0,01) |
| Số quả chắc (quả/cây) |
28,5 |
33,7 |
35,9 |
30,8 |
Khác biệt có ý nghĩa (p < 0,01) |
| Số quả lép (quả/cây) |
6,9 |
6,9 |
8,3 |
7,1 |
Không có ý nghĩa (ns) |
| Khối lượng 100 quả (g) |
99,0 |
102,7 |
108,5 |
104,1 |
Khác biệt có ý nghĩa (p < 0,01) |
| Năng suất thực thu (tấn/ha) |
3,1 |
3,3 |
4,3 |
4,1 |
Khác biệt có ý nghĩa (p < 0,01) |
Phân tích cho thấy canxi tác động rất mạnh đến số quả chắc và năng suất, trong đó mức bón 400 kg CaO/ha đạt năng suất thực thu trung bình 4,3 tấn/ha. Phân lân ở các mức 60, 90, 120, 150 kg P2O5/ha cho năng suất dao động từ 3,6 đến 3,8 tấn/ha và sai khác không có ý nghĩa thống kê. Sự tương tác giữa canxi và lân thể hiện rõ ở khối lượng 100 quả (đạt cao nhất 109,3 g ở C3P4 và 108,5 g ở C3P2).
- Hiệu quả kinh tế: Tính toán kinh tế theo đơn giá thị trường (giá bán đậu phụng quả khô 20.000 đồng/kg) cho thấy:
- Chi phí đầu tư dao động từ 47.877 nghìn đồng/ha (C1P1) đến 54.485 nghìn đồng/ha (C4P4).
- Nghiệm thức bón 400 kg CaO/ha kết hợp 90 kg P2O5/ha (C3P2) đạt năng suất thực thu cao nhất (4,4 tấn/ha), tổng thu đạt 88.000 nghìn đồng/ha, chi phí sản xuất 50.485 nghìn đồng/ha, mang lại lợi nhuận cao nhất đạt 37.000 nghìn đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận đạt 0,74 lần.
- Nghiệm thức bón 200 kg CaO/ha kết hợp 150 kg P2O5/ha (C1P4) cho hiệu quả thấp nhất: năng suất chỉ đạt 2,8 tấn/ha, tổng thu 56.000 nghìn đồng/ha, lợi nhuận thấp nhất (4.843 nghìn đồng/ha) và tỷ suất lợi nhuận chỉ đạt 0,10 lần.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu rút ra các kết quả cụ thể bằng số liệu định lượng:
- Bón phân lân và canxi ở các liều lượng khác nhau không làm thay đổi có ý nghĩa thống kê đối với chiều cao cây (50,4 - 54,0 cm ở 55 NSG) và mức độ sâu bệnh hại (sâu ăn lá 9,8 - 10,9%; đốm nâu 20,0 - 20,9%).
- Phân lân tác động có ý nghĩa thống kê đến số cành cấp 1, đạt cực đại ở mức 90 kg P2O5/ha (5,4 cành/cây). Việc gia tăng lân lên mức 120 hoặc 150 kg P2O5/ha không làm gia tăng năng suất có ý nghĩa.
- Canxi là yếu tố chi phối quyết định: Mức bón 400 kg CaO/ha giúp tối ưu hóa số lá ở 45 NSG (56,1 lá/cây), tổng số nốt sần (635,6 nốt/cây), nốt sần hữu hiệu (503,5 nốt/cây), tích lũy chất khô (1,2 kg/m²), tổng số quả (44,2 quả/cây), số quả chắc (35,9 quả/cây), khối lượng 100 quả (108,5 g) và năng suất thực thu trung bình (4,3 tấn/ha).
- Khuyến nghị kỹ thuật từ tác giả: Áp dụng công thức bón 400 kg CaO/ha kết hợp với 90 kg P2O5/ha trên nền 1.000 kg phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, 40 kg N và 80 kg K2O/ha cho giống đậu phụng L29 trong vụ Xuân Hè tại vùng đất xám Thủ Đức, mang lại năng suất thực thu 4,4 tấn/ha và tỷ suất lợi nhuận đạt 0,74 lần.
Về mặt đóng góp, khóa luận đã cung cấp dẫn liệu thực nghiệm chính xác, chứng minh trên vùng đất xám chua bạc màu Thủ Đức, vôi (canxi) là yếu tố hạn chế hàng đầu cần được ưu tiên bổ sung thay vì gia tăng lượng phân lân quá mức, giúp tối ưu chi phí đầu vào và gia tăng thu nhập cho người sản xuất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các giới hạn thực tế trong nghiên cứu:
- Giới hạn về phạm vi thời gian: Nghiên cứu mới chỉ được tiến hành qua một vụ duy nhất (vụ Xuân Hè năm 2023) trên một địa bàn cụ thể tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học (Thủ Đức).
- Giới hạn về chỉ tiêu sinh hóa và môi trường đất: Do hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài chưa phân tích được mức độ hấp thu và hiệu suất sử dụng dưỡng chất khoáng (N, P, K) trong sinh khối cây; chưa phân tích các chỉ tiêu chất lượng hạt thương phẩm sau thu hoạch như hàm lượng protein và lipid; đồng thời chưa đánh giá biến động lý hóa tính của đất xám sau khi kết thúc chu kỳ bón vôi và lân.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Tiếp tục bố trí thử nghiệm ảnh hưởng của công thức vôi và phân lân tối ưu trên giống L29 qua nhiều thời vụ canh tác khác nhau trong năm (vụ Thu Đông, Đông Xuân).
- Mở rộng phạm vi khảo nghiệm ra các tiểu vùng đất xám bạc màu khác nhau tại khu vực Đông Nam Bộ trước khi ban hành quy trình khuyến nông áp dụng trên quy mô sản xuất đại trà.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Thổ nhưỡng và Dinh dưỡng cây trồng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm ô phụ (Split Plot Design) hai yếu tố trên đồng ruộng, kỹ thuật theo dõi các chỉ tiêu nông học theo quy chuẩn QCVN 01-57:2011/BNNPTNT và quy trình phân tích phương sai hai yếu tố (ANOVA) kết hợp xếp hạng phân hạng trung bình bằng phần mềm SAS 9.0.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, khuyến nông viên và người sản xuất: Cung cấp căn cứ thực tế và bài toán hạch toán kinh tế rõ ràng để điều chỉnh tập quán bón phân trên đất xám, chuyển từ việc bón phân lân dư thừa sang việc đầu tư vôi bột đúng liều lượng (400 kg CaO/ha) để cải thiện năng suất đậu phụng.
- Các phần đáng tham khảo nhất trong tài liệu: Bảng số liệu phân tích đặc tính lý hóa đất xám ban đầu; phương pháp giải trình tương tác giữa canxi và phân lân đối với các yếu tố cấu thành năng suất; quy trình hạch toán kinh tế chi tiết cho từng công thức phối hợp dinh dưỡng.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao đất xám tại khu vực Thủ Đức lại cần ưu tiên bón vôi (canxi) hơn là tăng liều lượng phân lân?
Theo kết quả phân tích tại Bảng 2.2 của khóa luận, đất xám tại khu vực thí nghiệm có sa cấu cát pha thịt (82% cát), phản ứng chua nhiều (pH KCl = 4,9), hàm lượng chất hữu cơ rất thấp (1,21%) và lân dễ tiêu thấp (13,1 mg/100 g). Đất chua làm hạn chế hoạt động của vi khuẩn nốt sần và làm cố định lân. Bón canxi ở mức 400 kg CaO/ha vừa trung hòa độ chua, vừa cung cấp trực tiếp canxi cho tia đậu hấp thụ làm chắc quả, trong khi tăng lân từ 90 lên 150 kg P2O5/ha không làm tăng năng suất do vượt quá ngưỡng hấp thu hữu hiệu của cây trong điều kiện đất xám.
2. Liều lượng phân lân có ảnh hưởng đến chiều cao cây và năng suất thực thu của giống đậu phụng L29 hay không?
Số liệu phân tích thống kê tại Bảng 3.1 và Bảng 3.9 chỉ ra rằng các liều lượng phân lân từ 60 đến 150 kg P2O5/ha không tác động có ý nghĩa thống kê đến chiều cao cây (chiều cao ở 55 NSG dao động từ 51,5 đến 53,7 cm) cũng như năng suất thực thu (biến động từ 3,6 đến 3,8 tấn/ha, trị số Fp = 1,01 không có ý nghĩa). Phân lân chỉ tác động có ý nghĩa thống kê đến số cành cấp 1, đạt cao nhất ở mức 90 kg P2O5/ha (5,4 cành/cây).
3. Bón canxi ở liều lượng nào thì nốt sần cố định đạm phát triển mạnh nhất?
Theo Bảng 3.4, mức bón 400 kg CaO/ha kích thích nốt sần phát triển mạnh nhất, đạt tổng số 635,6 nốt sần/cây và 503,5 nốt sần hữu hiệu/cây (tại thời điểm 60 NSG), khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) so với mức đối chứng 200 kg CaO/ha (chỉ đạt 452,8 tổng nốt sần và 367,2 nốt sần hữu hiệu). Mức bón 500 kg CaO/ha có xu hướng làm giảm số nốt sần xuống còn 537,9 nốt sần/cây.
4. Nghiệm thức nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và thấp nhất trong nghiên cứu?
Nghiệm thức bón 400 kg CaO/ha kết hợp 90 kg P2O5/ha (C3P2) đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với năng suất 4,4 tấn/ha, chi phí 50.485 nghìn đồng/ha, lợi nhuận đạt 37.000 nghìn đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận đạt 0,74 lần. Ngược lại, nghiệm thức bón 200 kg CaO/ha kết hợp 150 kg P2O5/ha (C1P4) đạt hiệu quả thấp nhất do chi phí cao (51.157 nghìn đồng/ha) nhưng năng suất chỉ đạt 2,8 tấn/ha, lợi nhuận đạt 4.843 nghìn đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận chỉ đạt 0,10 lần.
5. Những chỉ tiêu nào chưa được phân tích trong khóa luận do giới hạn nghiên cứu?
Tác giả nêu rõ đề tài chưa phân tích các chỉ tiêu hấp thu dinh dưỡng N, P, K tích lũy trong cây; chưa kiểm nghiệm hàm lượng protein và lipid trong hạt đậu phụng sau thu hoạch; đồng thời chưa phân tích lại các đặc tính lý hóa của đất sau thí nghiệm để đánh giá mức độ suy thoái hoặc cải tạo đất.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đàm Thị Thu Hiền đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu thực nghiệm xác định lượng phân lân và canxi thích hợp cho giống đậu phụng L29 trên vùng đất xám Thủ Đức trong vụ Xuân Hè 2023. Kết quả chứng minh công thức bón 400 kg CaO/ha kết hợp 90 kg P2O5/ha trên nền phân hữu cơ vi sinh, đạm và kali mang lại năng suất thực thu tối ưu (4,4 tấn/ha) cùng tỷ suất lợi nhuận cao nhất (0,74 lần). Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu nông học định lượng tin cậy cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác đậu phụng bền vững trên các vùng đất xám bạc màu.