Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây tia tô 1.1 Phân loại cay tia tô Tia tô có tên khoa học là Perilla frutescens (L) Britt. Thuộc bộ: Lamiales Họ: Lamiaceae Chi: Perilla Loài: Perilla frutescens Một số tên đồng nghĩa khác của tia tô: Perilla macrostachya, Perilla ocymoides, Perilla urticifolia, Ocimum frutescens.2 Nguồn gốc, phân bố Nguồn gốc bản địa của tía tô trải rộng từ Án Độ đến Đông Nam Á. Cây tía tô được xác định có nguồn gốc ở vùng núi Himalayas đến vùng Đông Nam Á. Cây tía tô được trồng nhiều ở bán đảo Triều Tiên, Nam Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ như một loại cây rau gia vị pho biến (Hồ Đình Hải, 2013).
Dựa vào màu sắc của lá tía tô có thể phân thành các loại: Perilla frutescens (L. acuta (Aka Shiso) lá có mau tím va hoa màu tím nhat. crispidiscolor (Katamen Shiso) lá cây có mau xanh ở mặt trước và tim sọc ở mặt phía sau. crispa (Ao Chirimen Shiso) lá lớn có màu xanh lá cây ở cả hai mặt, mép lá quan và có hoa màu trắng.
Đề tài sử dụng giống Perilla frutescens (L. crispidiscolor (Katamen Shiso) lá cây có mau xanh ở mặt trước va tim soc ở mặt phía sau để làm thí nghiệm.3 Đặc điểm thực vật học Tía tô là cây thân thảo, mọc hàng năm. Cây ưa sáng và âm, thích hợp với đất thịt, đất phù sa. Tía tô ra hoa kết quả nhiều, sau khi quả già, cây tàn lụi, hạt giống phát tán ra xung quanh, đến mùa mưa âm năm sau mới nảy mầm.
Mùa hoa tháng 7 - 9, mùa quả tháng 10-12.1 Rễ Trong bộ rễ của tia tô có 2 - 3 rễ chính ăn sâu xuống đất khoảng 8 — 20 cm, có một số rễ ăn xiên đài tới 30 - 40 cm. Trên rễ chính có nhiều rễ cấp 2, cấp 3 hợp thành bộ rễ tập trung ở độ sâu 10 - 20 cm.2 Than Thân thuộc loại thân thảo, mọc đứng, cao 40 - 100 em tùy thuộc vào điều kiện và đất trồng. Có mắt đốt là nơi phát triển của lá và mầm nhánh, toàn cây có mùi thơm và có nhiều lông. Thân và cành vuông, màu xanh hay tím, có nhiều lông.3 Lá Lá đơn, mọc đối chéo, phiến mỏng, hình trứng rộng, đỉnh lá nhọn, gốc tròn.
Bìa lá có rang cưa nhọn, hai mặt lá có màu xanh hoặc tím nhạt, có lông, gân giữa có mau tim, cuống lá đạng sợi, màu tím xanh 1.4 Hoa Hoa nhỏ mọc thành chùm ở đầu cành, ở kẻ lá có màu trắng hay tím, mọc đối. Ra hoa quả tháng 9 - 10.5 Quả Quả tía tô là quả hạch nhỏ, hình cầu, màu nâu nhạt.6 Hạt Hạt có hình cầu nhỏ, 1000 hạt nặng khoảng 4 g, có mùi thơm nhẹ khi vỡ, có vi cay (Đỗ Tắt Lợi, 2004) 1.4 Điều kiện ngoại cảnh Tía tô là cây ưa sáng và ưa âm, thích nghi với những vùng khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm từ 18 - 23°C (Đỗ Huy Bich va ctv, 2006). Theo Guzman và Siemonsma (2018), nhiệt độ tối ưu cho sự nảy mầm và phát triển của tía tô là 20°C, với nhiệt độ cao hơn cây cũng có thê phát triển đễ dàng được. Tuy nhiên, nhiệt độ trồng tía tô không được xuống đưới 10°C.
Guzman và Siemonsma cũng cho rang tia tô có thé sinh trưởng trên đất có pH từ 5 - 7,5 và phát triển mạnh trên đất cát hữu cơ.5 Tinh dau tia tô Tinh dầu có mau vàng nhạt, mùi thom nồng của mùi lá tia tô. Tinh dau tia tô thé hiện khả năng chống oxy hóa mạnh. Nó được chứng minh trong thí nghiệm thu đọn gốc tự do DPPH và ABTS, cụ thể là thành phần Perillaldehyde monoterpene trong tinh dầu có khả năng nay. Tinh dau từ lá tia tô mau tím cho kha năng chống oxy hóa cao hon và ngăn chặn hình thành LDL — cholesterol tốt hơn so với tinh dau từ lá màu xanh (Du Thi Cam Quynh, 2022).
Các nghiên cứu khoa học cho biết, trong cây tia tô có chứa 0. Khi chiết xuất thành tinh dầu, thành phan chủ yếu là perillaldehyde C¡oH¡4O, limonene CioHis, a - pinene CioHi6 và dihydrocumin C¡oH¡4O. Bên cạnh đó, sản phẩm cũng chứa các hợp chất hữu cơ loại flavonoid như apigenin, luteolin. Cùng acid hữu cơ: acid rosmarinic, acid caffeic với hàm lượng khác nhau.6 Thành phần dinh dưỡng Qua Bang1.1 cho thấy trong lá tia tô có chứa nhiều tinh dau có tính kháng khuẩn cao kèm theo các loại vitamin đa dạng như vitamin C, A.
các khoáng chat (phốt pho, canxi, sắt,) là các chất phần dinh dưỡng và vitamin cần thiết cho cơ thể con người.1 Thanh phần dinh đưỡng trong 100g tia tô tươi. Thành phần dinh dưỡng Đơn vị Hàm lượng Năng lượng kcal 40,0 Protein g 2,9 carbohydrate g 7,0 Xelluloza g 3,6 Vitamin - C mg 13,0 Beta - carotene mcg 5520 Canxi mg 190,0 Sat mg we: Chat béo Rat it, không xác định (Kim Ngân, 2023) 1.2 Gia tri cay tia to Tia tô là loại cây gia vị quen thuộc được sử dung trong chế biến thực phẩm trong trang trí món ăn hoặc dùng ăn sống. Trong y học cổ truyền, các bộ phận của cây như lá (tô điệp), cành (tô ngạnh), quả (tô tử), rễ (tô căn) đều đã được dùng làm thuốc từ lâu đời. Tia tô có vi cay, tính ôn có tác dụng giải phong han, hóa dom, an thai, giải độc của cua cá.
Công dụng cu thé từ cây tía tô đã được nghiên cứu để ứng dụng trong dược phẩm như kháng khuan, chống di ứng, chống oxy hóa, ngăn ngừa ung thư, trị tiêu đường, điều trị bệnh răng miệng. Ngoài ra, lá tía tô còn được sử dụng làm nguyên liệu dé chế biến ra các dạng thực pham chức năng có giá tri như tra tia tô thao mộc, bột lá tia tô, cao tia tô.có tác dụng tốt cho sức khỏe (Nguyễn Vũ Bá Huy, 2019). Tia tô còn giúp ôn định quá trình trao đổi chất bên trong cơ thé, tăng cường chức năng gan thì một tác dụng khác của lá tía tô là giúp tiêu viêm sưng và chống nhiễm khuẩn từ bên ngoài, làm hạn chế những tốn thương do bệnh mé day gây ra khá hiệu quả. Một công dụng khác của lá tía tô đó là giúp cho ra mồ hôi, chữa cảm mạo rất tốt (Kim Ngân, 2023).3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của kẽm đến cây trồng Kém là một nguyên tố thiết yếu đối với nhiều chức năng sinh lý của cây trồng, làm duy trì tính toàn vẹn chức năng của màng sinh học thực vật và hỗ trợ quá trình tổng hợp chất protein.
Kẽm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình: quang hợp, tổng hợp protein và hình thành đường, sinh sản và tạo hạt giống, ngoài ra nó còn điều chỉnh độ tăng trưởng, bảo vệ chống các loại dịch bệnh (Lê Minh Giang, 2020). Kẽm tham gia đồng hóa cacbon, tích lũy saccarit, loại bỏ các gốc oxy phản ứng, và sử dụng carbon trong quá trình sinh tông hợp dầu dé bay hơi như estragol, linalool, eugenol, methyl chavicol (Said va ctv, 2010). Kém còn có một chức năng khác là kích thích cây sản xuất IAA, sinh tông hợp chất diép lục và cần thiết dé tổng hợp DNA, RNA và protein (Nahed và Balbaa, 2007). Tình trạng thiếu kẽm ở cây trồng được thé hiện ở những biểu hiện dé nhận thấy như: thân cây phát triển còi cọc, cây thấp, mắc bệnh úa vàng, lá cây có hình dạng còi cọc khác thường.
Piotr Salachna và ctv (2021) “Ảnh hưởng các hạt nano kẽm oxit tăng và hàm lượng kẽm đến tính chất sinh học của tía tô đỏ” Kết quả các thí nghiệm đã chứng minh sự cải thiện về chất lượng và số lượng của sản lượng lá tía tô đỏ là kết quả của việc tưới cây bang NP ZnO. Các hiệu ứng phụ thuộc vào liều lượng. Nong độ thấp hơn của NP ZnO (50 và 100 mg/L) làm tang sinh khối thực vật, tổng hàm lượng anthocyanin, hoạt tính chống gốc tự do và kìm khuan của dịch chiết 25%, trong khi nồng độ cao nhất (200 mg/L) làm giảm hoạt tính kháng vi sinh vật. Đồng thời cũng tìm thấy hàm lượng Zn ngày càng tăng trong lá cùng với nồng độ NP ZnO tăng lên.
Không thể phủ nhận lợi ích của việc áp dụng nano ZnO liều thấp trong canh tác tía tô đỏ, nhưng do những tranh cãi liên quan đến tác động của vật liệu nano đối với sinh vật sống, cần nghiên cứu thêm dé đánh gia mức độ an toàn của việc thai NP ZnO vào môi trường. Fallai và ctv (2016) “Ảnh hưởng của việc bón qua lá các nguồn kẽm khác nhau đến năng suất và tinh chất hóa học của hing qué (Ocimum basilicum L.)” Kết quả cho thấy việc bón kẽm qua lá có anh hưởng đáng kể đến các thông số đánh giá. Năng suất thảo mộc tươi và khô, hàm lượng kẽm va phenol trong lá, hàm lượng tinh dầu và năng suất tăng lên khi bón kẽm và về mặt này, việc bón qua lá nano - kẽm chelate có hiệu quả hơn so với hai loại phân bón kẽm khác. Các thông số được đánh giá thấp nhất và cao nhất được quan sát thấy ở các nồng độ tương ứng là 0 và 3 g/l.
Kết quả phân tích tinh dầu bằng phương pháp sắc ký khí (GC) và sắc ký khí khối phổ (GC - MS) cho thấy, trong tinh dau hing qué đã xác định được 20 hợp phan. Linalool và eugenol là những thành phan chính của tinh dầu và chúng cho thấy ít thay đổi khi sử dụng kẽm. Nhìn chung, kết quả của nghiên cứu này cho thấy hiệu quả của việc bón nano kẽm chelate hiệu quả hơn so với kẽm sulphate và kẽm chelate trong việc tăng năng suất thảo mộc và các hoạt chât của húng quê. Derakhshani và ctv (2011) đã thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của phương pháp bón kẽm bón vào đất và qua lá với nồng độ 1 và 2 mg khi bón vào đất và 1 và 3 g/1 khi bón qua lá đến một số đặc điểm sinh hóa và nồng độ chất dinh dưỡng của cây (Chrysanthemum balsamita L.
Kết quả cho thay các chỉ tiêu về sinh trưởng đã được tăng lên nhờ sử dụng kẽm bat kể nồng độ và phương pháp bón. Hàm lượng protein và tổng số phenol, khả năng chống oxy hóa và chỉ số chất điệp lục trong cây được tăng lên nhờ sử dụng kẽm. Zhang và ctv (2010) đã thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của kẽm sunfat và mỗi PEG đối với sự nảy mầm của hạt lão hóa và hoạt động chống oxy hóa của cây tía tô”. Kết quả cho thấy ZnSO4 với nồng độ 600 mg/l va PEG với nồng độ 20% có thé làm giảm đáng kê thiệt hại cho hạt và cây con do lão hóa và thúc day khả năng chống lão hóa của hạt và cây con.