Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây ngải cứu 1.1 Nguồn gốc và phân loại 1.1 Nguồn gốc Ngai cứu là loại cây sống lâu năm có nguồn gốc từ vùng ôn đới 4m như: châu Âu, châu Á, Châu Mỹ, Alaska và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, không phải vùng nào cũng khai thác ngải cứu dé làm thuốc, một số nơi cho rằng đây là loài cỏ xâm 14n và cần phải diệt trừ. Hiện nay cây được trồng và trở nên hoang đại hóa ở vùng nhiệt đới Nam Á, Đông - Nam Á và Ấn Độ, Pakistan, Srilanca, Bangladesh, Lao, Thái Lan, Indonesia, Trung Quéc. O Viét Nam, cây được trồng từ lâu đời trong nhân dân từ nam đến bắc.
Ở độ cao từ khoảng 800 m trở lên, cây ngải dại mọc tự nhiên rất nhiều ở tỉnh Lào Cai (Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, Than Uyên); Lai Châu (Phong Thổ, Sin Hồ, Tuần Giáo, Tua Chùa); Yên Bái (Mù Cang Chai); Cao Bằng (Trùng Khánh, Bảo Lạc); Lạng Sơn (Vùng Mẫu Sơn); Hòa Bình (Mai Châu) và Hà Giang (Phạm Hoàng Hộ, 2000).2 Phân loại Ngai cứu còn có tên gọi khác là cây thuốc cứu, thuốc cao, ngải điệp, quá si, cỏ linh li. Cây ngải cứu có tên khoa học là Artemisia vulgaris L. Và được gọi tên tiếng anh là Argy Worm Wood leaf. Chúng thuộc ngành hạt kín (Magnoliophyta), lớp hai lá mầm (Magnoliopsida) bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), chi Astemisia L., loài Artemisia vulgris L.
La một loài có số lượng rất lớn trong họ cúc (Asteraceae). Trên thế giới, chi Artemisia có khoảng 300 loài phân bố ở ôn đới Bắc Mỹ, Tây Nam Mỹ, Nam Phi, châu A. Ở nước ta chi Artemisia có 14 loài, trong đó có 3 loài vừa được sử dụng làm thuốc dùng trong thuốc uống vừa được sử dụng làm thuốc dùng ngoài da như: Artemisia vulgaris L., Artemisia apiacea Hance, Artemisia capilaris Thunb; 2 3 loài được sử dụng làm thuốc dùng trong: Artemisia annua L.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Ngai cứu rễ cọc, rễ có khả năng phát triển rất nhanh trong điều kiện đất tơi xốp thoáng khí và đủ âm (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Rễ đóng vai trò quan trọng như một máy bơm trong hút nước và chất dinh đưỡng cung cấp cho cây trồng sinh trưởng phát triển.
Ngoài ra, khi hệ thống bộ rễ tốt giúp cây đứng vững không bị đồ ngã.2 Thân Thân thuộc cây thân thảo đa niên, chiều cao 0,6 - 1 m, đường kính thân từ 0,25 - 1,5 cm, thân to, có rãnh dọc và cành non có nhiều lông tơ min (N guyén Thi Hồng Thảo, 2015). Thân cây thắng có khả năng phân nhánh rất nhanh khi gặp điều kiện thích hợp và là loại cây có thân ngầm, phân nhánh tại các đốt thân nằm trong đất. Thân có mau từ xanh đến nâu tối.3 Lá Lá ngai cứu mọc so le, phiến lá rỗng xẻ 5 thùy hình mũi mác hẹp, đầu nhọn, không có cuống (nhưng lá phía đưới thường có cuống), xẻ thùy lông chim, màu lá ở hai mặt rất khác nhau: mặt trên nh&n màu lục sam, mặt dưới mau trắng tro do có rất nhiều lông tơ nhỏ, trang (Đỗ Tat Lợi, 2003). Những lá ở ngọn có hoa không chẻ.
Lá trưởng thành có màu xanh dam, dài 1 - 10 cm, rộng 3 - 7,5 cm. Khi vo lá ngải cứu nát có mùi thơm hắc.4 Hoa Cụm hoa hình đầu nhỏ, màu vàng lục nhạt, mọc tập trung thành từng chùm kép ở đầu cành. Mọc ở ngọn thân và đầu cành thành chùm kép mang nhiều đầu nhỏ, màu vàng lục nhạt; bao gồm những lá bắc nguyên giống như những vay có lông; đầu mọc chúc xuống cùng phía, hình trứng cụt, mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính trên cùng một cụm hoặc ở những cụm khác nhau; thường hoa cái chiêm nhiêu hơn; hoa không có mào lông; tràng hoa cái có ống mảnh, cụt hoặc có hai răng ở đầu, tràng hoa lưỡng tính hình phéu, có 5 thùy uống cong ra phía ngoài.5 Quả Mùa hoa quả: Tháng 10 - 12 (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004). Quả có màu nâu, dạng ôvan dài, kích thước | - 2 mm và có một vài lông ở đỉnh quả.
Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 1.1 Nhiệt độ Cây ngải cứu có nguồn gốc ôn đới nên yêu cau có nhiệt độ cao dé mọc mắm, sinh trưởng và phát triển. Nhiệt độ trung bình 18 - 22°C. Ở các thời kì nảy chỗi tốt nhất trong phạm vi nhiệt độ 20 - 25°C (Nguyễn Thị Hồng Thảo, 2015).2 Độ cao Cây ngai cứu chịu được biên độ dao động độ cao rất lớn, chúng có thé sống được ở những vùng lạnh có độ cao trên 3700 m ở Bắc Hymalaya, cho đến những vùng ấm hơn ở Nam Mỹ. Chỉ có hai nơi trên thế giới không có sự xuất hiện cây này là Châu Phi và Antaritica.
Điều đó cho thay rằng cây ngải cứu thích nghi rộng (Võ Văn Chi, 2004).3 Lượng mưa va 4m độ Ngai cứu là cây ưa khí hậu ôn hòa, ưa nắng 4m và mưa nhiều. Trong điều kiện ánh sáng yếu (cây sống dưới tán cây rừng hoặc mọc lẫn với các cây bụi khác) hoặc trong điều kiện khô hạn cây van sinh trưởng phát triên được nhưng sé cho hiệu quả thấp. Độ âm đất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển là 65 - 75% và độ âm không khí từ 75 - 85%. Chế độ nước ảnh hưởng rat lớn đến thời kỳ cây con sinh trưởng và phát triển.
Lượng mưa trung bình 600 - 1000 mm/năm thích hợp cho cây ngai cứu tập trung và phát triển tốt ( Bùi Thị Nga, 2015).4 Ánh sáng Ngải cứu là một cây trồng cần lượng ánh sáng trực xạ hoặc trực xạ để phục vụ cho quá trình quang hợp, hấp thu và tổng hợp các chất trong cây. Do đó khi cây hấp thu đầy đủ ánh sáng thì lá sẽ dày, lá màu xanh đậm, phân nhánh hình thành hoa hiệu quả đem đến năng suất cao và chất lượng tốt hơn (Bùi Thị Nga, 2015).5 Dat Cây ngải cứu có thé sinh sống trên các loại đất thịt pha cát, đất sét pha cát có pH 5,5 - 6,8 cho đến đất cát, đất thịt, đất sét (Barney và ctv, 2003). Nhưng dé cây ngải cứu có thê phát triển sinh trưởng thì loại đất phù hợp nhất đó là đất thịt nhẹ, đất phù sa, đất đỏ bazan và kết hợp với việc bón phân hữu cơ hoai cho đất.4 Tỉnh dầu ngải cứu Thành phan tinh dau trong ngải cứu chủ yếu là cineole, tập trung nhiều ở cụm hoa, lá, đỉnh chồi. Hàm lượng cineole trong tinh dau thay đồi tùy thuộc vào bộ phận của cây, nơi trồng, thời điểm thu hoạch (Jack, 2012).
Hàm lượng tinh dầu trong lá ngải cứu non 1,27% (Nguyễn Thi Hong, 2011). Trong cây ngải cứu chứa tỉnh dầu với hàm lượng 0,20 - 0,34%. Thành phần chủ yếu của tỉnh dầu là các monoterpen và sesquiterpen. Gồm 1,8 cineole, camphor, terpinem 4.pinen, borneol, myrcen và vulgrin (là những thành phan it thay đôi) còn thuyon thường có mặt với hàm lượng thấp hoặc đôi khi không có.
Trong ngải cứu Việt Nam, có những chat màu indigo - base, gần 50 hợp chất đã phân tích và xác định có trong lá, chủ yếu là B caryophylen 24% và B cubedene 12 % (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004). Ngoài các thành phần chủ yếu ở trên, trong cây ngải cứu còn có các hợp chất a- thuyon, dehydro matricaria este, tetradecatrilin, tricosanol, arachylacol, adenin, choline (Lê Trần Đức, 1997).5 Công dụng của ngải cứu Người Việt Nam và một số nước khác ngải cứu còn được sử dụng như một loại rau ăn thường ngày dé chữa bệnh, là thực phẩm chức năng có nhiều công dụng, phù hợp với thị hiéu 4m thực của rất nhiều người dân như: canh ngải cứu nấu thịt nạc; trứng gà tráng ngải cứu giúp lưu thông máu lên não trị bệnh đau đầu; gà tần ngải cứu giúp bồi bổ sức khỏe, hoạt huyết, xương cốt déo dai, cháo ngải cứu chữa động thai hoặc giảm dau thấp khớp, lâu gà ngải cứu. Ngải cứu một loại cây quen thuộc gần gũi với con người Việt Nam. Ngải cứu không chỉ được dùng làm thực phẩm trong các món ăn hàng ngày mà con đem lại một giá trị lớn đóng vai trò là nguồn được liệu cho con người, hau hết tat cả các bộ phận của cây đều dùng được.
Theo Đông y, Ngai cứu là vi thuốc có tính ôn, vị cay điều hòa khí huyết, trục hàn thấp, điều kinh, an thai, dùng chữa bệnh đau bụng do hàn, kinh nguyệt không đều, thai động không yên, thổ huyết, máu cam, nôn mửa, đau dây thần kinh, thấp khớp (Đỗ Tắt Lợi, 2006). Tinh dâu của A. vulgaris còn được sử dụng làm thuôc trừ sâu, trừ vi khuân và các sinh vật kí sinh. Ngoài ra, tinh dau của A.vulgaris còn có tac dụng đặc biệt như xông hơi và xua đuôi côn trùng (loài Musca domestica) (Viện Dược Liệu, 2006).
Làm điều ngải lá ngải khô vò nát, loại bỏ cành cuống, phan còn lại gọi là ngải nhung. Dem ngải nhung cuốn thành diéu như điều thuốc lá. Diéu ngải được đốt mang tính 4m nóng cao (thuần dương) nên khi dùng dé làm nóng (cứu) các huyệt đạo sẽ làm khí huyết lưu thông, gây âm nóng cơ thê, giảm đau, sưng, mỏi, làm tan máu tụ. Trong ngải cứu chứa nhiều loại chất chống oxy hóa như aglutathione, vitamin C, các chất ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình oxy hóa các chất khác bằng cách khử đi các gốc tự do oxy hoá.
Từ đó kết quả cho thấy ngải cứu là một nguồn tiềm năng của chất chông oxy hóa tự nhiên hiệu quả cao. Trải qua hàng ngàn năm thực hành nghiên cứu, ngải cứu được cho là vật liệu cứu ngải tốt nhất. Tác dụng chính của phương pháp cứu ngải (châm cứu bằng ngải cứu) là điều khí, khai thông huyệt đạo đang bị tắc trở, nhằm phòng và điều trị bệnh. Ngải cứu được hơ trên da tạo cảm giác nóng nhưng dịu, không bỏng rát.
Sức nóng vào sâu đến huyệt tạo cảm giác thoải mái. Bên cạnh đó, mùi hương đặc trưng của ngải cứu còn có tác dụng an thần, định tâm (Nguyễn Thị Lệ Quyên, 2021).2 Vai trò dinh dưỡng đối với cây trồng Trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng được quyết định bởi nhiều yêu tố như vật liệu trồng, phương pháp trồng, điều kiện ngoại cảnh, thời gian thu hoạch, bao quan và phương pháp chiết xuất thích hợp (Chu Thị Thơm và ctv, 2006). Dé cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt thì việc bổ sung dinh dưỡng rất cần thiết. Trong đó, 7 phân bón lá là loại phân trong thành phần có kha đầy đủ các nguyên tố đa lượng và nguyên t6 vi lượng ở dang dé tiêu giúp cho lá cây có thé dé dang hấp thu và chuyền hóa phục vụ cho các quá trình trao đôi chất trong cây.