Chương 1: Một số vấn đề chung về đa dạng sinh học và truyền thông về đa dạng sinh học ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học trên Kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng chất lượng hoạt động truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học của các chương trình truyền hình. 9 z ƢƠ ỘT SỐ VẤ Ề U VỀ D S Ọ VÀ TRUYỀ T Ô VỀ D S Ọ Ở V ỆT ột số chủ trƣơn v chính sách của ản v h nƣớc về vấn đề Bảo tồn đa dạn sinh học Nhằm ngăn chặn suy thoái đa dạng sinh học, từ đầu những năm 1960 Chính phủ và các Bộ, ngành đã xây dựng các chính sách và nhiều văn bản pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học. Từ đó đến nay, việc cải cách thể chế và luật pháp đã phát triển nhanh chóng với sự ra đời nhiều bộ luật có liên quan tới bảo tồn và sử dụng bền vững DS : Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật ất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật Thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, Luật a dạng sinh học được Quốc hội phê chuẩn ngày 13 tháng 11 năm 2008. Có thể nói rằng, Luật a dạng sinh học ra đời đã đánh dấu một bước tiến căn bản trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo tồn DS ở Việt Nam.
Lần đầu tiên, có bộ Luật đề cập tổng thể, bao quát hết các khía cạnh bảo tồn, từ vấn đề quy hoạch bảo tồn DS , đến bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, loài, nguồn gen. Luật cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập các cơ chế tài chính, hoàn thiện tổ chức, tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn DS. Ngoài ra, đây cũng là văn bản đã đặt mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học là trên hết. Trước khi Luật a dạng sinh học ra đời, việc quản lý các hoạt động liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học được điều chỉnh bởi 03 Luật chính sau: Luật Thuỷ sản năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
10 z Luật Thủy sản được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 (số 17/2003/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Luật này quy định 02 hệ thống các khu bảo tồn vùng nước thủy nội địa và khu bảo tồn biển với các mức phân hạng: vườn quốc gia; khu bảo tồn loài và sinh cảnh; và khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh. Theo điều 9 của Luật Thủy sản, Chính phủ ban hành tiêu chuẩn để phân loại và công bố các khu bảo tồn; quy hoạch, xây dựng và phân cấp quản lý các khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển; ban hành quy chế quản lý khu bảo tồn có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2004 (số 29/2004/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2005. ây là văn bản rất quan trọng đối với công tác bảo vệ hệ sinh thái rừng, một trong các hệ sinh thái có diện tích lớn nhất, giầu đa dạng sinh học và có nhiều giá trị quan trọng đối với đời sống đất nước và con người Việt Nam.
Luật BV&PTR đã quy định Hệ thống rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: (i) Vườn quốc gia; (ii) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; (iii) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; (iv) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học. Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (số 52/2005/QH11) và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2006. Văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Theo Luật Bảo vệ môi trường, các khu vực và hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế phải được điều tra, đánh 11 z giá và lập quy hoạch để bảo vệ dưới dạng: (i) Khu bảo tồn biển ; (ii) Vườn Quốc gia; (iii) Khu dự trữ thiên nhiên; (iv) Khu dự trữ sinh quyển; và, (v) Các khu bảo tồn loài và sinh cảnh.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật Bảo vệ môi trường đưa ra 7 căn cứ thành lập khu bảo tồn, đó là: (i) iá trị di sản tự nhiên của thế giới, quốc gia và địa phương; (ii) iá trị nguyên sinh, tính đặc dụng, phòng hộ; (iii) Vai trò điều hoà, cân bằng sinh thái vùng; (iv) Tính đại diện hoặc tính độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên; (v) Nơi cư trú, sinh sản, phát triển thường xuyên hoặc theo mùa của nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu, quý hiếm bị đe doạ tuyệt chủng; (vi) Giá trị sinh quyển, sinh cảnh, cảnh quan thiên nhiên, sinh thái nhân văn đối với quốc gia, địa phương; và, (vii) Các giá trị bảo tồn khác theo quy định của pháp luật. Luật a dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 (số 20/2008/QH12) và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2009. Theo luật này, bảo tồn đa dạng sinh học được hiểu là (i) là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; (ii) bảo vệ sinh cảnh tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của thiên nhiên; và, (iii) nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Luật a dạng sinh học phân chia khu bảo tồn thiên nhiên theo 5 loại hệ sinh thái: (i) rừng, (ii) biển, (iii) đất ngập nước, (iv) núi đá vôi, và (v) đất chưa sử dụng ( iều 34).
Theo luật này, các khu bảo tồn được phân thành 4 loại: (i) Vườn Quốc gia; (ii) khu bảo tồn thiên nhiên; (iii) khu bảo tồn loài và sinh cảnh; và, (iv) Khu bảo vệ cảnh quan. Luật đồng thời quy định “vùng đệm” là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn. Trước khi Luật a dạng sinh học được ban hành, các bộ Luật khác, đặc biệt là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản đã quy định nhằm quản 12 z lý, điều chỉnh một loạt các đối tượng cụ thể như: hệ sinh thái rừng, động vật, thực vật rừng, hệ sinh thái biển, động thực vật biển, vùng nước địa. Còn với Luật a dạng sinh học, văn bản này đã đề cập một cách trực tiếp nhất đến trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học theo nghĩa đầy đủ nhất của thuật ngữ này, đó là: đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên ( iều 3 khoản 5), không phân biệt nguồn gen động vật hay thực vật, loài sinh vật trên cạn hay dưới nước, hệ sinh thái rừng, biển hay đất ngập nước.
ây là cách tiếp cận của ông ước a dạng sinh học đã được cộng đồng quốc tế công nhận. Như vậy, cho đến nay, đã và đang tồn tại 03 bộ Luật chính liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, đó là: Luật Thuỷ sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật a dạng sinh học. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” ( iều 83.2); “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau” ( iều 83. Theo vậy, có thể hiểu khi Luật a dạng sinh học được ban hành sẽ có những điều khoản áp dụng “thay thế” các điều khoản liên quan của các Luật Thuỷ sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường nếu xét về mục đích bảo tồn đa dạng sinh học.
Hiện nay, đối tượng quản lý của Luật a dạng sinh học là khu bảo tồn. Tuy nhiên, trên thực tế cho đến thời điểm này, Luật a dạng sinh học chưa có đối tượng cụ thể để quản lý vì chính các đối tượng này đã được điều chỉnh bởi Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong thời gian qua. Bên cạnh các bộ Luật đã đề cập ở trên, trong thời gian qua không thể không đề cập tới một văn bản có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác bảo tồn 13 z đa dạng sinh học ở Việt Nam. ó là Kế hoạch ành động quốc gia về a dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước a dạng sinh học và Nghị định thư artagena về An toàn sinh học (gọi tắt là Kế hoạch 79) (được ban hành theo Quyết định số 79/2007/Q -TTg ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ).
Ở thời điểm năm 2007, đây là văn bản có tính tổng thể nhất về bảo tồn đa dạng sinh học với nhiều mục tiêu, chỉ tiêu được đặt ra cho đến năm 2010. ầu năm 2011, Bộ Tài nguyên & Môi trường đã có báo cáo đánh giá 03 năm thực hiện Kế hoạch 79. ôi trƣờn v đa dạn sinh học 1. Môi trường và bảo vệ môi trường Môi trường thể hiện mối quan hệ giữa con người và cách ứng xử của nó đối với tự nhiên và xã hội xung quanh.
Không một sinh vật, một cá thể thậm chí một con người nào có thể sống thiếu môi trường xung quanh. ối với con người, môi trường bao quanh gồm cả khía cạnh tự nhiên và xã hội. Hiện nay có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau về môi trường và các yếu tố nội tại của môi trường. Môi trường là nơi xảy ra một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng, quá trình ấy.