Chương 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Điểm sinh học loài Gõ đỏ. LLL Đặc diém hình thái và vật hậu Gõ đỏ còn được gọi là Cà te hay Hỗ bì, tong tiếng Việt, người CHDCND Lào gọi cây này là Teakha. Theo Sách đỏ Việt Nam Gõ d6 có tên khoa học là A/:elia xylocarpa (Kurz) Craib, theo Trần Hợp (2002) và nhiều tác giả khác cũng sử dụng tên khoa học này cho loài Gõ trong nghiên cứu của Bộ (Ordo): Fabales Ho (Familia): Fabaceae Phan ho (Subfamilia): Caesalpinioideae Chi (Genus): Afzelia Loài (Species): Afzelia xylocarpa Tình 1.
Hình thái cây và các bộ phận cia loài Go đỏ Neudn: https:/www.com/authwatl Go đồ thuộc chỉ Gõ đỏ (Afzelia), họ phụ vang (Caesalpinioideae), là cay gỗ rụng lá, cao 30 - 40 m, cành nhiều vả rườm rà, đoạn thân dưới cảnh thường. Vỏ thân màu xám xanh, nứt vảy không đều, day 8 đến 10 mm, có bướu. Cảnh non hơi có lông, sau nhẵn, có lỗ bì. Lá kép lông chim một lần chin, cuống chung đài 10 - 15 em, mang 2 én 5 đôi lá nhỏ, mọc đối, hình trái xoan hoặc trứng, gốc lá tròn, đầu tù, tròn hoặc nhọn ở gốc, dài 5 - 6 em, rộng 4 - 5 em, gân bên 9 - 7 đôi, có 2 lá kèm.
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiền, (2002), Nguyễn Hoàng. theo báo cáo của Bộ KHCN và MT Việt Nam, (1996), (2007), Hoa của Gõ đỏ có hoa ty chùm, đài 10 - 12 em, mau trắng xám. Cay ra hoa vào tháng 3 đến tháng 4, quả chín vào thing 9 đến tháng 11. Quả hóa 126 dày, hình trái xoan, đài 15 - 20 em, rộng 6 - 9 cm, dày 2 - 3 em.
Hạt hình trụ, bầu dục hoặc hơi tròn, vỏ cứng, màu den, tử ÿ cứng, màu trắng 1. Đặc điểm phân bổ. Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, (2004). Gõ đỏ phân bố ở Việt Nam, 'CHDCND Lào, Thái Lan, Mianma.
Ở Việt Nam Gõ đỏ mọc rải rác trong các rừng kin thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và rừng kín nửa rụng lá hơi n nhiệt đới, những nơi có lượng mira từ 1500 - 2500 mm/năm, nhiệt độ trung bình tháng lạnh 150C, tháng nồng nhất 26 - 290C. 1 ¡ miễn Dong Nam Bộ, Gõ đỏ thường mọc trên đắt feralit đỏ vàng phát triển từ đá phiến thạch sét, đất xám. trên granit và đất nâu đồ trên đá bazan với thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ. Gõ 46 có khế năng tái sinh tốt bằng hạt và chỗi dưới tan rùng.
Giá trị kinh tế ‘Theo Hà Quang Khải Cs (2002), Nguyễn Hoàng Nghĩa, (2004). Go đỏ có giác màu xám trắng, lõi đỏ nhạt đến đỏ sim, có chỗ nỗi vân đen giống da hổ. Gỗ năng, cứng, hơi thô, dé chế biển, thường ít cong vênh, không bị mỗi mọi nhưng đễ nit Gỗ Gõ đỏ rất tốt, én, đẹp, chịu đựng tốt với môi trường. Gỗ dùng để xây dựng các công trình lớn, làm nhà, đóng tàu thuyền, đóng đồ dùng.
trong nhà, làm đỗ mỹ nghệ, đồ mộc cao cấp. Ngoài ra, GB đỏ được chọn là cây trồng trong cai tạo rừng và vườn rừng, (Bộ KHCN và MT, 1996). Nghiên cứu về cầu trúc rừng. Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống.
cứu cầu trúc rừng để biết được những mỗi quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để để xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp, là rất cần thiết Baur G. (1962), đã nghiên cứu các vấn dé về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh đoanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Theo tác giả, các phương thức xử lý đều có hai mục tiêu rõ rt: Mục tiêu thứ nhất: là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuéi bằng cách đảo thải những cây quá thành thục và vô dung để tao không gian thích hop cho các cây còn lại sinh trưởng. Mục tiêu thứ hai: là tạo lập tai sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái xinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp cây tái sinh sẵn có dang ở trạng thái ngủ dé thay thé cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong quá trình khai thác hoặc trong chăm sóc nuôi đưỡng rừng sau đó.
Tir đó, ông đã đưa ra những tổng kết hết ức phong phú vé các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tui rùng không đều tuổi và các phương thức xử lý cái thiện rừng mưa. Catinot (1965), nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu. diễn các phẫu đỏ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh tha thông qua việc mô tả phan loại theo các khái niệm dạng sống, ting phiến.P (1971), đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở. thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.
Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ la cơ sở dé nghiên cứu các nhân t6 cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Eshetu Yirdaw et al, (2019), Khi nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục, xác định có tới 70 - 100 loài cây gỗ trên I ha, nhưng hiểm có loài nào chiếm hơn 10% tô thành loài. W (1952), (Vương Tan Nhị dịch), đã đi sâu nghiên cứu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nỗi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ.
Rừng nhiều ting (thường có ba ting, ngoại trừ ting cây bụi và ting cây thân cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bi và các loài thân cỏ, còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và ích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây. Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chính và cầu ky nhất về mat cấu tao và cũng phong phú nhất về mặt loài cây. Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng ty nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tng thứ, trong đó có ý kiến cho r rừng này chỉ có một ting cây gỗ mà thoi.
Richards (1952), phân rừng ở Nigeria thành 6 ting với các giới hạn chiều cao là 6 - 12 m, 12- 18m, 18 -24 m, 24- 30 m, 30- 36 m và 36 - 42 m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao. (1971), nghỉ ngờ sự phân ting rừng ram nơi có độ cao dưới 600 mở Puecto < Rigo và cho rằng không có sự tập trung khối tin ở một ting riêng biệt nào cả. Nhu vậy, hau hết các tác giả khi nghiên cứu về tang thứ thường dua ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia ting thứ theo chiều cao mang tinh ơ giới nên ehưa phản ánh được sự phân chia phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. Khi ehuyén đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng vé cầu trúc rừng, nhiều tác giả đã sử dụng các công thức và hàm toán học dé mô.
lình hoá cấu trúc rừng, xác định mối quan hệ giữa các nhân tổ cấu trúc của rừng. Raunkiaer (1934), đã đưa ra công thức xác định phổ dạng sống chuẩn cho hang nghìn loài cây khác nhau. Theo đó, công thức phd dạng sống chuẩn. được xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cá thé của tng dạng sống, so với tổng số cá thé trong một khu vực.
Để biểu thị tính đa dang về loài, một xế tác giả đã xây đựng các công thức xác định chí số đa dang loài như. Simpson (1949), để đánh giá mức độ phân tán hay tập trung của các loài, đặc bị là lớp thảm tươi, Drude đã đưa ra khái niệm độ nhié u và cách xác định. Day là những nghi cứu mang tính định lượng nhưng xuất phát từ những cơ sở sinh thái nên rất có ý nại Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm. Đã biển diễn mỗi quan hệ giữ Đhiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy.
phân bề đường kính nguyỆEDÄÀ đường bính tán bằng các dạng phân bô xác sui sử dung him Weibull để mô hình hoá câu trúc đường kính thân cây loài Thông, v. Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dung trong dé tài. Tom lại, trên thé giới các công trình nghiên cứu vị điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đối nói riêng rất phong phú, đa dang, có nhiều công trình nghiên cứu công phu va đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh. Tuy nhiên, do rừng tự nhiên rất phong phú và da dạng, nên những nghiên cứu này không thể bao quát cho mọi khu rừng.
Tein Ngũ Phương (2000), Lê Sáu (1996, Nguyễn Văn Sinh (2007), đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của những thảm thực vật trên cơ sở kết quả điều tra tổng quất vẻ tình hình rừng. Nhân tổ cầu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành thông qua đó một số quy luật được phát triển của các hệ sinh thái rùng được phát hiện va ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Đông Sĩ Hiển (1974), Trin Ngũ Phương (2000), nghiên cứu định lượng, về cấu trúc rừng, tác giả. dùng hàm Meyer và hệ thống đường cong Pearson 10 để nắn phân bố thực nghiệm. ly theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam.
Phạm Ngọc G 10 (1995), đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng. cách để biểu trúc rừng thứ sinh va áp dụng quá trình Poisson vào, nghiên cứu cẩu trúc quan thé rừng, v. Việc áp dụng phương pháp vẽ “Biểu đồ phẫu diện" sau khi đã đo chính xác vi trí, chiều cao và đường kính thân. y tần lá của toàn bộ những cây gỗ (ng A) tên một dải hẹp hình của khu tiêu chuẩn theo Richards và Dayids (1934) đã thể hiện khá rõ sự phân chia theo tang của thực vật trong hệ sinh thái rừng.
Bên cạnh đó, tác giá cồn dura vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, có những dạng sống ưu thế của thực vật trong ting cây lập quản, độ tàn che, hình. thái lá và tình trạng mau của tán lá. Như vậy, các vin dé cấu trúc rừng được van dụng trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quan thể.