Tổng quan luận án
Cá Măng sữa (Chanos chanos Forsskål, 1775), còn được gọi là cá Măng biển, là đại diện duy nhất còn tồn tại của họ Chanidae. Đây là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, với hàm lượng protein đạt 24,18% và axit béo không bão hòa chiếm 32,11% (Malle và cộng sự). Thành phần axit amin thiết yếu chiếm 49,49% tổng số axit amin của thịt cá, nổi bật với axit glutamic (18,2%), leucine (8,0%), lysine (7,3%), phenylalanin (6,7%) và histidine (6,1%) (Murthy và cộng sự). Trên phạm vi quốc tế, nghề nuôi cá Măng sữa có lịch sử lâu đời tại Indonesia, Philippines và Đài Loan, với sản lượng toàn cầu gia tăng từ 808,6 nghìn tấn năm 2010 lên 1,327 triệu tấn vào năm 2018 (FAO, 2020).
Tại Việt Nam, cá Măng sữa phân bố tự nhiên dọc dải ven biển từ Nghệ An đến Bình Thuận, tập trung mật độ cao tại vùng biển Bình Định và Khánh Hòa. Do áp lực khai thác cá con tại các đầm phá ven bờ cùng với tác động ô nhiễm môi trường nước ven duyên hải, nguồn lợi tự nhiên của loài bị suy giảm nghiêm trọng. Loài này đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (2007) với phân hạng Sẽ nguy cấp (VU A2d) và thuộc danh mục nguồn gen thủy sản quý hiếm cần bảo tồn và phát triển theo Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 13/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Mặc dù có tiềm năng phát triển nuôi đơn trong lồng bè, ao đất hoặc nuôi ghép với tôm, cua để cải thiện sinh thái và tăng hiệu quả kinh tế (Nguyễn Thị Mỹ Dung và cộng sự), nghề nuôi cá Măng sữa trong nước vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống khai thác tự nhiên bấp bênh, chưa chủ động được công nghệ sản xuất giống nhân tạo.
Luận án tiến sĩ sinh học của tác giả Trần Thị Kim Ngân, thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (năm 2022, mã số chuyên ngành Động vật học: 9 42 01 03, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Quang Huy và TS. Trần Đức Lương), được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống công nghệ này trong khuôn khổ Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước mã số NVQG-2018/15.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:
- Xác định các đặc điểm sinh học cơ bản của cá Măng sữa ngoài tự nhiên tại vùng biển miền Trung Việt Nam, bao gồm đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu và mô học hệ tiêu hóa, phổ dinh dưỡng, đặc điểm thành thục sinh dục, sức sinh sản và cấu trúc tuổi.
- Xác định các thông số kỹ thuật thích hợp về nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản bằng kích dục tố, ấp nở trứng và kỹ thuật ương nuôi qua các giai đoạn (cá bột lên cá hương, cá hương lên cá giống), từ đó hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá Măng sữa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskål, 1775) ở các giai đoạn từ cá tự nhiên, đàn cá bố mẹ, trứng, phôi, cá bột, cá hương đến cá giống.
- Phạm vi không gian: Mẫu cá tự nhiên và cá bố mẹ được thu thập tại dải ven biển 7 tỉnh miền Trung Việt Nam (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận). Các thí nghiệm nuôi thuần dưỡng, nuôi vỗ sinh sản, ấp nở và ương nuôi ấu trùng được tiến hành tại Trung tâm Thực hành Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Vinh (Nghệ An).
- Phạm vi thời gian: Thu mẫu tự nhiên định kỳ từ tháng 02/2017 đến tháng 01/2018; thí nghiệm nuôi vỗ và sinh sản thực hiện từ tháng 9/2017 đến tháng 12/2017; thí nghiệm ương nuôi cá con thực hiện từ tháng 4/2018 đến tháng 5/2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa các thành tựu nghiên cứu trên thế giới và trong nước về phân loại học, sinh học cá học và kỹ thuật nuôi trồng cá Măng sữa:
- Nghiên cứu quốc tế: Phân loại học và sinh học loài thuộc họ Chanidae đã được xác lập từ mô tả ban đầu của Forsskål (1775). Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Măng sữa quy mô công nghiệp được hoàn thiện và tổng kết tại Đài Loan, Philippines và Indonesia (Liao và cộng sự; FAO, 2020). Các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và công thức thức ăn chế biến cho đàn bố mẹ được chuẩn hóa bởi Oseni và cộng sự (2002).
- Nghiên cứu trong nước: Tình hình phân bố và tiềm năng nuôi ghép được ghi nhận bởi Nguyễn Thị Mỹ Dung và cộng sự; tình trạng bảo tồn được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Quyết định 188/QĐ-TTg (2012). Song song đó, công nghệ sản xuất giống nhân tạo một số đối tượng cá biển kinh tế tại Việt Nam đã đạt được các bước tiến quan trọng, bao gồm cá Giò Rachycentron canadum (Nguyễn Quang Huy và cộng sự, 2003), cá Chim vây vàng Trachinotus blochii (Lại Văn Hùng và cộng sự, 2011) và cá Chẽm Lates calcarifer (Ngô Văn Mạnh và Hoàng Thị Thanh, 2019).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Trước thời điểm luận án thực hiện, các dữ liệu về đặc điểm sinh học cá Măng sữa tại vùng biển Việt Nam còn tản mạn, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện về mô học ống tiêu hóa, phổ thức ăn theo nhóm kích thước, chu kỳ thành thục sinh dục tự nhiên và sức sinh sản của quần thể miền Trung. Đặc biệt, quy trình công nghệ sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá Măng sữa phù hợp với điều kiện môi trường, thức ăn và trang thiết bị tại Việt Nam chưa được hoàn thiện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu sinh thái học thực nghiệm, hình thái giải phẫu học, mô học và công nghệ nuôi trồng thủy sản:
- Khung phân tích hình thái và phân loại: Phân loại hình thái ngoài theo Pravdin (1961), Rainboth (1996); đếm tia vây, vảy theo Holden và Raitt (1974); đo các chỉ số sinh trắc học (SL/HL, SL/BD, HL/ED, HL/EK, ED/SL, EK/SL) theo Lowe-McConnell (1971), Grant và Spain (1977).
- Đánh giá đặc tính dinh dưỡng: Xác định chỉ số tương quan chiều dài ruột trên chiều dài thân (RLG = Li/Lt) theo Al-Hussainy (1949). Phổ dinh dưỡng được phân tích bằng phương pháp tần suất xuất hiện và phương pháp khối lượng theo Biswas (1993) và AOAC (2000). Định loại thức ăn theo Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980), Mai Đình Yên và cộng sự.
- Đánh giá đặc tính sinh sản và cấu trúc tuổi: Xác định 6 giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theo thang bậc Xakun và Buskaia (1968) và Nikolsky (1963). Hệ số thành thục (GSI) tính theo Biswas (1993). Độ béo Fulton ($F = W \times 100 / SL^3$) và Clark ($C = W_0 \times 100 / SL^3$) theo Fulton (1902) và Clark (1928). Cấu trúc mô học cơ quan tiêu hóa và tuyến sinh dục xử lý vùi parafin, nhuộm Haematoxylin và Eosin (HE) theo Drury và Wallington (1967), Kiernan (1990). Sức sinh sản tuyệt đối ($F_a$) và tương đối ($F_r$) xác định theo Banegal (1967). Tuổi cá xác định qua vòng năm trên vảy theo Nikolsky (1963).
- Phương pháp phân tích dinh dưỡng thức ăn: Xác định protein thô theo Kjeldahl (TCVN 4331-2001), lipid thô theo phương pháp Soxhlet chiết ete (TCVN 4331-2001), độ ẩm sấy ở 105°C (TCVN 4326-86).
| Nội dung nghiên cứu |
Cỡ mẫu |
Kích thước / Khối lượng / Độ tuổi |
| Phân tích hình thái và sinh trắc |
64 mẫu |
SL: 30,33 – 68,82 cm; Wt: 42 – 3500 g |
| Phân tích đặc điểm dinh dưỡng |
60 mẫu |
Nhỏ (30 mẫu): SL 20,05 – 40,13 cm, Wt 12,83 – 47,58 g; Lớn (30 mẫu): SL 38,40 – 74,36 cm, Wt 50,2 – 2332 g |
| Tiêu bản mô học nội quan |
30 mẫu |
Đại diện các nhóm kích thước |
| Phân tích sinh học sinh sản |
220 mẫu |
Tuổi $0^+$ đến $4^+$; SL 18,68 – 72,82 cm; Wt đến 3500 g (135 cái, 85 đực) |
| Sức sinh sản buồng trứng |
35 mẫu cái |
Tuyến sinh dục giai đoạn IV; Wt 3200 – 4500 g |
| Đàn cá bố mẹ nuôi vỗ |
135 cặp |
Tuyển chọn từ tự nhiên, khối lượng $\ge 3,5$ kg/con |
- Bố trí thí nghiệm sản xuất giống:
- Thí nghiệm thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ: 3 nghiệm thức (TA1: cá tạp; TA2: thức ăn tự chế 30% protein, 4% lipid; TA3: thức ăn viên công nghiệp 40% protein, 6% lipid) trên 9 giai lưới ($4\text{ m} \times 3\text{ m} \times 2\text{ m}$) trong ao 1000 m², mật độ 12 con/giai (1 con/m²), tỷ lệ đực/cái 1:2. Thời gian nuôi vỗ 4 tháng (giai đoạn 1: 6% BW đối với TA2, TA3 và 10% BW đối với TA1; giai đoạn 2: 3% BW đối với TA2, TA3 và 5% BW đối với TA1).
- Thí nghiệm kích thích sinh sản: Sử dụng LHRHa kết hợp HCG với 4 nghiệm thức liều lượng (KDT1: 30 µg LHRHa + 1000 UI HCG/kg cá cái; KDT2: 40 µg LHRHa + 1000 UI HCG/kg cá cái; KDT3: 50 µg LHRHa + 1000 UI HCG/kg cá cái; KDT4: 60 µg LHRHa + 1000 UI HCG/kg cá cái; cá đực tiêm liều bằng 1/2 cá cái).
- Thí nghiệm ấp trứng: So sánh phương pháp ấp bể composite sục khí (NAT1) và bể vòng nước chảy nhẹ lưu tốc 0,2 L/giây (NAT2); thử nghiệm 6 dải mật độ ấp (500, 700, 900, 1100, 1300, 1500 trứng/L) trong bể composite 400 L ở điều kiện 28°C, độ mặn 30‰, pH 8,0, DO 5,5–6,0 mg/L. Khử trùng trứng bằng Iod 10% liều lượng 20 ppm trong 10 phút.
- Thí nghiệm ương nuôi cá bột lên cá hương: Phân kỳ thành 3 giai đoạn thức ăn trong bể composite 500 L: Giai đoạn 3–7 ngày tuổi thử nghiệm 3 loại luân trùng (Proales similis 50–70 µm, Brachionus rotundiformis 90–110 µm, Brachionus plicatilis >120 µm, mật độ 10 con/ml); Giai đoạn 7–14 ngày tuổi thử nghiệm phối hợp luân trùng với Nauplius Copepoda, luân trùng lớn hoặc Nauplius Artemia; Giai đoạn 15–30 ngày tuổi thử nghiệm Copepoda, Artemia và thức ăn tổng hợp NRD Inve kết hợp mật độ tảo Nannochloropsis oculata (8–10 vạn tế bào/ml). Đồng thời thử nghiệm 6 nghiệm thức về tần suất và tỷ lệ cho ăn.
- Thí nghiệm ương cá hương lên cá giống: Thử nghiệm mật độ ương, tần suất và tỷ lệ cho ăn thức ăn công nghiệp, theo dõi tăng trưởng, tỷ lệ sống, hệ số phân đàn (CV) và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 tổng thuật chi tiết cơ sở dữ liệu quốc tế và Việt Nam về loài Chanos chanos. Luận án xác định vị trí phân loại học của cá Măng sữa thuộc bộ Gonorynchiformes, họ Chanidae, chi Chanos. Tác giả phân tích bức tranh sản xuất giống và nuôi thương phẩm tại ba trung tâm nuôi lớn trên thế giới gồm Indonesia, Philippines và Đài Loan, nơi công nghệ sinh sản nhân tạo bằng hormone và nuôi lồng biển, ao nước lợ đã ổn định từ cuối thế kỷ XX.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở khảo sát phân bố nguồn lợi tự nhiên và thử nghiệm nuôi quy mô nhỏ từ giống tự nhiên. Trong khi đó, các công trình sản xuất giống nhân tạo cá biển tại Việt Nam đã thành công trên nhiều loài cá kinh tế (như cá Giò, cá Chẽm, cá Chim vây vàng), tạo tiền đề kỹ thuật và cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu áp dụng công nghệ kích thích sinh sản và ương nuôi ấu trùng cá Măng sữa trong điều kiện nhân tạo. Chương 1 chỉ rõ những thách thức kỹ thuật nuôi biển ở Việt Nam và xác định cơ hội phát triển cá Măng sữa như một đối tượng nuôi đa dạng sinh thái.
Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả toàn bộ địa điểm, hóa chất, trang thiết bị, quy mô mẫu vật và thiết kế các sơ đồ khối thí nghiệm. Mẫu tự nhiên 462 cá thể được thu thập định kỳ hàng tháng tại 7 tỉnh duyên hải miền Trung trong năm 2017–2018. Hệ thống phương pháp hình thái học, phân tích RLG, giải phẫu hiển vi và mô học HE được trình bày chuẩn hóa.
Quy trình bố trí thí nghiệm thực nghiệm sản xuất giống được thiết kế nhiều bước kế tiếp nhau:
- Thí nghiệm 3 loại thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ (cá tạp, thức ăn tự chế 30% protein, thức ăn viên công nghiệp 40% protein) trong giai lưới đặt tại ao đất.
- Thí nghiệm 4 dải liều hormone LHRHa + HCG kích thích cá bố mẹ rụng trứng và phóng tinh.
- Thí nghiệm so sánh 2 hình thức ấp trứng (bể composite có sục khí và bể vòng) cùng 6 dải mật độ ấp từ 500 đến 1500 trứng/L.
- Thí nghiệm thức ăn và chế độ cho ăn qua từng giai đoạn phát triển của ấu trùng: cá bột 3–7 ngày tuổi, 7–14 ngày tuổi, 15–30 ngày tuổi và cá hương lên cá giống.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được của luận án, chia thành hai phần lớn:
- Đặc điểm sinh học của cá Măng sữa ngoài tự nhiên:
- Hình thái và giải phẫu: Cơ thể thon dài, dẹp hai bên, vảy tròn nhỏ phủ đều, miệng nhỏ ở mút trước không có răng, hàm có màng bao bọc. Lược mang mịn và dày, thực quản ngắn có nhiều nếp gấp dọc, dạ dày dạng túi cơ dày phát triển, ruột rất dài gấp nhiều lần chiều dài thân. Tương quan chiều dài ruột/chiều dài thân ($RLG$) biến động lớn theo giai đoạn phát triển: cá nhỏ ($SL < 40\text{ cm}$) có chỉ số $RLG$ thấp hơn cá trưởng thành ($SL > 40\text{ cm}$), phản ánh sự chuyển hóa dinh dưỡng từ ăn tạp thiên về động vật phù du sang ăn mùn bã hữu cơ, tảo đáy và thực vật phù du ở cá lớn.
- Mô học tiêu hóa: Mô tả chi tiết cấu trúc vi phẫu thực quản, vách dạ dày với lớp cơ khỏe, các tế bào biểu mô ruột có nhiều vi nhung mao và hệ thống tuyến tiêu hóa gồm nhu mô gan và túi mật.
- Sinh thái dinh dưỡng: Phổ thức ăn phân tích qua tần suất xuất hiện và khối lượng cho thấy cá nhỏ tiêu thụ chủ yếu động vật phù du (copepoda, ấu trùng giáp xác), trong khi cá trưởng thành ăn hỗn hợp tảo silic, tảo lam, mùn bã hữu cơ, thực vật thủy sinh mục nát và sinh vật đáy.
- Đặc điểm sinh sản và cấu trúc tuổi: Tỷ lệ đực/cái trong quần thể tự nhiên xấp xỉ 1:1,59 (85 đực / 135 cái). Tuyến sinh dục trải qua 6 giai đoạn phát triển được minh chứng bằng ảnh chụp mô học tế bào trứng và tế bào sinh tinh. Hệ số thành thục ($GSI$) và hệ số béo Fulton/Clark có mối tương quan nghịch rõ nét theo mùa vụ: GSI đạt đỉnh cao nhất vào các tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, trùng với mùa vụ sinh sản chính của cá ngoài tự nhiên. Cá thành thục sinh dục lần đầu ở nhóm tuổi $3^+$ đến $4^+$ với khối lượng trên 3,0 kg. Sức sinh sản tuyệt đối ($F_a$) ở cá cái khối lượng 3,2–4,5 kg dao động từ vài triệu đến hàng triệu trứng/cá thể, sức sinh sản tương đối ($F_r$) đạt giá trị cao.
- Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo:
- Thức ăn nuôi vỗ bố mẹ: Nghiệm thức sử dụng thức ăn viên công nghiệp (40% protein, 6% lipid) mang lại kết quả thành thục, tỷ lệ rụng trứng, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của phôi tốt nhất và ổn định hơn so với thức ăn tự chế và cá tạp tươi.
- Kích thích sinh sản: Liều lượng hormone tối ưu để kích thích sinh sản cá Măng sữa cái đạt hiệu quả cao là tổ hợp LHRHa liều 50–60 µg/kg phối hợp 1000 UI HCG/kg cá cái (tiêm 2 lần cách nhau 18 giờ); cá đực tiêm liều bằng 1/2 cá cái tiêm trước 24 giờ. Thời gian hiệu ứng thuốc từ 10 đến 14 giờ sau liều tiêm quyết định ở nhiệt độ nước 28–30°C.
- Ấp trứng: Ấp trong bể composite sục khí duy trì DO $\ge 6\text{ mg/L}$ ở mật độ tối ưu 700–900 trứng/L cho tỷ lệ nở cao nhất, tỷ lệ dị hình thấp nhất và cá bột khỏe mạnh.
- Kỹ thuật ương cá bột lên cá hương (1–30 ngày tuổi):
- Giai đoạn 3–7 ngày tuổi: Luân trùng cỡ nhỏ Brachionus rotundiformis (90–110 µm) ở mật độ 10 con/ml kết hợp bổ sung vi tảo Nannochloropsis oculata (8–10 vạn TB/ml) cho tỷ lệ sống cao nhất và tỷ lệ dị hình thấp nhất.
- Giai đoạn 7–14 ngày tuổi: Phối hợp luân trùng B. rotundiformis (5 con/ml) với Nauplius Copepoda hoặc Nauplius Artemia (5 con/ml) giúp tốc độ tăng trưởng chiều dài và khối lượng tăng nhanh rõ rệt.
- Giai đoạn 15–30 ngày tuổi: Chuyển đổi thức ăn sang Artemia bung dù kết hợp tập ăn thức ăn tổng hợp NRD Inve giúp cá đạt tỷ lệ sống cao, đồng đều kích cỡ, giảm hiện tượng phân đàn.
- Kỹ thuật ương cá hương lên cá giống (cỡ 2,5 cm lên 6,0–7,0 cm): Mật độ ương thích hợp trong bể composite được xác định cùng với chế độ cho ăn thức ăn công nghiệp với tần suất 3–4 lần/ngày theo tỷ lệ khẩu phần giảm dần theo khối lượng thân, mang lại hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) hợp lý và tỷ lệ sống cao.
- Luận án đã tổng hợp toàn bộ các thông số kỹ thuật thành sơ đồ quy trình sản xuất giống cá Măng sữa hoàn chỉnh gồm 6 công đoạn: Nuôi vỗ cá bố mẹ $\rightarrow$ Tuyển chọn và tiêm kích dục tố $\rightarrow$ Thu trứng và ấp nở $\rightarrow$ Ương cá bột lên cá hương $\rightarrow$ Ương cá hương lên cá giống $\rightarrow$ Thu hoạch và vận chuyển giống.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự công bố các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Đóng góp về khoa học lý luận:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu sinh học đầy đủ về hình thái, chỉ số sinh trắc học, cấu tạo giải phẫu và mô học chi tiết hệ tiêu hóa của cá Măng sữa phân bố tại vùng biển miền Trung Việt Nam.
- Xác định được bản chất dinh dưỡng biến đổi theo lứa tuổi thông qua chỉ số tương quan chiều dài ruột/chiều dài thân ($RLG$) và phổ thức ăn tự nhiên theo nhóm kích thước.
- Làm sáng tỏ đặc điểm sinh học sinh sản: thang 6 giai đoạn phát triển tế bào trứng và tinh sào qua ảnh hiển vi mô học, quy luật biến động của hệ số thành thục ($GSI$) và hệ số béo (Fulton, Clark), xác định mùa vụ sinh sản tự nhiên tập trung từ tháng 4 đến tháng 8, tuổi thành thục sinh dục lần đầu ($3^+$–$4^+$) và sức sinh sản của loài tại vùng biển miền Trung.
- Đóng góp về thực tiễn ứng dụng:
- Hoàn thiện thành công quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá Măng sữa Chanos chanos tại Việt Nam với các thông số kỹ thuật chuẩn hóa:
- Tiêu chuẩn và chế độ dinh dưỡng nuôi vỗ đàn cá bố mẹ bằng thức ăn công nghiệp 40% protein.
- Công thức liều lượng kích dục tố hiệu quả (LHRHa kết hợp HCG) và kỹ thuật kích thích sinh sản.
- Thông số kỹ thuật ấp nở trứng (mật độ 700–900 trứng/L, sục khí duy trì $\text{DO} \ge 6\text{ mg/L}$, nhiệt độ 28–30°C).
- Sơ đồ thức ăn tươi sống qua từng giai đoạn tuổi của ấu trùng (luân trùng $\rightarrow$ Nauplius Copepoda/Artemia $\rightarrow$ thức ăn công nghiệp NRD) và kỹ thuật ương cá hương lên cá giống.
- Đề xuất và kiến nghị: Chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo cho các cơ sở sản xuất giống thủy sản ven biển; tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nuôi thương phẩm quy mô thâm canh và bán thâm canh tại các vùng sinh thái đầm phá, bãi triều và nuôi lồng biển.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn thu mẫu sinh học tự nhiên và cá bố mẹ giới hạn tại vùng biển 7 tỉnh duyên hải miền Trung; các thí nghiệm sản xuất giống thực hiện tại một cơ sở thực nghiệm (Trung tâm Thực hành Nuôi trồng Thủy sản – Đại học Vinh, Nghệ An), cần kiểm chứng tính ổn định ở các vùng sinh thái phía Nam có chế độ nhiệt và độ mặn quanh năm khác biệt.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu tối ưu hóa công thức thức ăn nhân tạo chuyên biệt cho đàn cá Măng sữa bố mẹ nuôi vỗ nhiều năm; nghiên cứu giải pháp nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn chuyển đổi thức ăn; mở rộng thử nghiệm các mô hình nuôi thương phẩm (nuôi đơn thâm canh, nuôi ghép trong đầm tôm sinh thái) tại các vùng nuôi thủy sản trọng điểm trên toàn quốc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Động vật học, Sinh học biển, Nuôi trồng Thủy sản và Quản lý Nguồn lợi Thủy sản: Tham khảo phương pháp nghiên cứu hình thái, mô học tuyến sinh dục, phân tích phổ dinh dưỡng cá học và phương pháp bố trí thí nghiệm ương nuôi ấu trùng cá biển.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy và tài liệu dẫn chứng về đặc điểm sinh học loài cá biển thuộc họ Chanidae tại vùng biển Việt Nam.
- Cơ quan quản lý thủy sản và trung tâm khuyến nông - khuyến ngư: Sử dụng các dữ liệu về mùa vụ, bãi sinh sản và sức sinh sản để xây dựng phương án bảo tồn nguồn gen nguy cấp theo Sách Đỏ, đồng thời tiếp nhận quy trình kỹ thuật để ứng dụng nhân rộng sản xuất giống nhân tạo phục vụ phát triển kinh tế biển.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Tỷ lệ chiều dài ruột trên chiều dài thân ($RLG$) của cá Măng sữa biến đổi như thế nào theo kích thước cơ thể?
Trả lời: Luận án chỉ ra rằng cá nhỏ ($SL$ từ 20,05 đến 40,13 cm, khối lượng 12,83–47,58 g) có chỉ số $RLG$ thấp hơn rõ rệt so với cá nhỡ và cá lớn ($SL$ từ 38,40 đến 74,36 cm, khối lượng 50,2–2332 g). Điều này phù hợp với sự biến đổi phổ dinh dưỡng từ ăn tạp thiên về động vật phù du ở giai đoạn non chuyển dần sang ăn mùn bã hữu cơ, tảo silic, tảo lam và thực vật mục nát khi trưởng thành.
Câu hỏi 2: Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá Măng sữa tại vùng biển miền Trung diễn ra vào khoảng thời gian nào?
Trả lời: Dựa trên phân tích 220 mẫu cá thu thập định kỳ từ tháng 02/2017 đến tháng 01/2018 kết hợp quan sát mô học tuyến sinh dục và theo dõi hệ số thành thục ($GSI$), mùa vụ sinh sản của cá Măng sữa trong tự nhiên tập trung từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, trùng khớp với giai đoạn $GSI$ đạt giá trị cao nhất và độ béo giảm sút.
Câu hỏi 3: Loại hormone và liều lượng nào được xác định là hiệu quả nhất để kích thích sinh sản cá Măng sữa bố mẹ?
Trả lời: Luận án xác định tổ hợp kích dục tố hiệu quả nhất là tiêm phối hợp LHRHa với liều lượng 50–60 µg/kg thể trọng cá cái kết hợp 1000 UI HCG/kg cá cái. Cá đực tiêm liều bằng 1/2 cá cái trước liều quyết định của cá cái 24 giờ. Cá cái được tiêm 2 lần cách nhau 18 giờ; thời gian hiệu ứng thuốc từ 10 đến 14 giờ sau liều tiêm quyết định.
Câu hỏi 4: Thức ăn tươi sống nào thích hợp nhất cho ấu trùng cá Măng sữa trong tuần đầu tiên sau khi nở?
Trả lời: Ở giai đoạn 3–7 ngày tuổi (sau khi cá bột tiêu hết noãn hoàng), luân trùng cỡ nhỏ Brachionus rotundiformis (kích thước 90–110 µm) cho ăn ở mật độ 10 con/ml kết hợp duy trì mật độ vi tảo Nannochloropsis oculata từ 8 đến 10 vạn tế bào/ml trong bể mang lại tỷ lệ sống cao nhất và tỷ lệ dị hình thấp nhất so với luân trùng siêu nhỏ Proales similis (50–70 µm) và luân trùng lớn Brachionus plicatilis (>120 µm).
Câu hỏi 5: Mật độ và điều kiện môi trường tối ưu cho quá trình ấp trứng cá Măng sữa là gì?
Trả lời: Mật độ ấp trứng tối ưu được xác định là 700–900 trứng/L trong bể composite chuyên dụng có hệ thống sục khí liên tục duy trì oxy hòa tan $\text{DO} \ge 6\text{ mg/L}$, nhiệt độ nước 28–30°C, độ mặn 28–30‰, pH 7,8–8,3 và trứng được khử trùng trước khi ấp bằng dung dịch Iod 10% nồng độ 20 ppm trong thời gian 10 phút.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Kim Ngân đã giải quyết trọn vẹn hai mục tiêu nghiên cứu lớn: xác lập bộ cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác về đặc điểm hình thái, giải phẫu, dinh dưỡng và sinh học sinh sản của cá Măng sữa Chanos chanos tại vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, đồng thời xây dựng và hoàn thiện thành công quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo từ khâu nuôi vỗ cá bố mẹ, kích dục tố sinh sản, ấp trứng đến chế độ ương nuôi cá con qua từng giai đoạn tuổi. Công trình có giá trị khoa học cao trong lĩnh vực Động vật học và sinh học cá biển, đồng thời cung cấp giải pháp công nghệ thiết thực phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen quý hiếm và chủ động nguồn giống cho nghề nuôi biển bền vững tại Việt Nam.