Đặt vấn đề Cá Măng sữa Chanos chanos (Forsskål, 1775) còn gọi là cá Măng biển, là loài duy nhất còn tồn tại trong họ Chanidae. Cá Măng sữa là một trong những loài cá nuôi quan trọng tại khu vực Đông Nam Á. Thịt cá Măng sữa có giá trị dinh dưỡng cao, trong đó hàm lượng protein chiếm 24,18%, axit béo không bão hòa là 32,11% (Malle et al. Các axit amin thiết yếu chiếm 49,49% tổng số axit amin của thịt cá Măng sữa, trong đó Leucine (8%), lysine (7,3%), phenyl alanin (6,7%) và histidine (6,1%), axit glutamic (18,2%) là axit amin có tỉ lệ cao nhất (Murthy et al.
Cá Măng sữa là một trong những loài nuôi truyền thống lâu đời và quan trọng bậc nhất ở Châu Á, đặc biệt ở các quốc gia và vùng lãnh thổ như Indonesia, Philippines và Đài Loan. Cá Măng sữa có tính ăn tạp, rộng muối là loài cá có giá trị cao, được sản xuất giống và nuôi thương phẩm hàng thập kỷ ở những quốc gia này (Liao et al. Cá Măng sữa cũng là một trong những đối tượng nuôi chủ yếu trong nghề nuôi thủy sản của thế giới. Sản lượng nuôi loài cá này liên tục tăng, từ 808,6 nghìn tấn năm 2010 lên 1,327 triệu tấn vào năm 2018 (FAO, 2020) [4].
Ở Việt Nam, cá Măng sữa phân bố dọc ven biển từ Nghệ An đến Bình Thuận, tập trung nhiểu nhất ở Bình Định và Khánh Hoà. Loài này đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam với phân hạng sẽ nguy cấp – VU A2d (Sách Đỏ Việt Nam, 2007) [5]. Đồng thời, cá Măng sữa cũng đã được đưa vào danh mục nguồn gen quý hiếm trong cơ sở dữ liệu nguồn lợi thủy sản toàn quốc, thuộc nhóm đối tượng cần phải bảo tồn và phát triển (Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 13/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020). Cá Măng sữa có sức sinh sản cao nhưng tỉ lệ sống ở giai đoạn phôi và cá con thấp, do cường độ đánh bắt cá con rất lớn ở các vùng ven biển trong các đầm phá và do tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng ở vùng biển gần bờ.
Cá Măng sữa là đối tượng nuôi mới ở nước ta. Chúng có thể nuôi đơn trong lồng bè, ao đất, hoặc nuôi ghép với tôm, cua ở những vùng nước lợ, góp phần tăng thêm thu nhập và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước trong vùng nuôi tôm tập trung (Nguyễn Thị Mỹ Dung và cs. Tuy nhiên nguồn cá Măng sữa giống hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác từ tự nhiên và chưa đáp ứng đủ nhu cầu nuôi của người dân. Trong khi đó, nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá Măng sữa ở 22 Hình 2.
Bản đồ các điểm thu mẫu cá Măng sữa (Trần Thị Tuyến) 23 2. Vật liệu nghiên cứu 2. Mẫu vật a) Mẫu vật dùng cho nghiên cứu đặc điểm sinh học Mẫu cá Măng sữa dùng nghiên cứu đặc điểm sinh học được thu trực tiếp hoặc mua từ ngư dân đánh bắt ở vùng biển miền Trung tại địa điểm thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận (Hình 2. Tổng cá Măng sữa thu ngoài tự nhiên là 462 mẫu, được thu từ tháng 02/2017 đến tháng 01/2018.
Số lượng các mẫu dùng trong nghiên cứu đặc điểm sinh học được trình bày trong Bảng 2. Số lượng mẫu thu tại các địa điểm và mẫu dùng trong nghiên cứu TT Nội dung nghiên cứu Cỡ mẫu Số lượng (mẫu) 1 Phân tích đặc điểm hình thái SL: 30,33-68,82cm 64 Wt: 42-3500g 2 Phân tích đặc điểm dinh dưỡng SL: 20,05 – 40,13cm 30 Wt: 12,83-47,58g 38,40 – 74,36cm 30 Wt: 50,2 – 2332g 7 Tiêu bản mô học 30 8 Phân tích đặc điểm sinh sản Tuổi: 0+-4+ 220 Wt: 3.500g SL: 18,68-72,82 cm b) Mẫu cá bố mẹ Nguồn cá bố mẹ được tuyển chọn ở các vùng biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận; Khối lượng từ 3.500g, đưa về nuôi thuần dưỡng và nuôi vỗ tại Trung tâm thực hành Hải sản trường Đại học Vinh. Số lượng cá đưa vào nuỗi vỗ 135 cặp. c) Mẫu cá bột Trứng thụ tinh được lấy từ đàn cá bố mẹ nuôi tại Trung tâm thực hành Hải sản – Trường Đại học Vinh.
Sau khi cá đẻ thu trứng, loại bỏ các trứng không được thu tinh và chuyển vào bể composite để ấp trứng, mật độ ấp trứng: 500-900 trứng/l. Trong quá trình ấp đảm bảo nước sạch, được sục khí liên tục luôn duy trì oxy hoà tan ở mức 6mg/ lít. Nhiệt độ trong quá trình ấp dao động từ 28–30 0C. Sau khi nở 24 tiến hành loại bỏ cá yếu, định lượng và bố trí thí nghiệm.
Hoá chất, dụng cụ, vật tư a) Dụng cụ vật tư nghiên cứu, thí nghiệm - Bộ giải phẫu: bộ đồ mổ, dùi, kéo các loại, panh các loại, dao - Khay, cốc thuỷ tinh dung tích 100ml, 200ml, 500ml - Cân điện tử, thước palme - Đĩa petri, lam kính, lamen, pipet - Bô can đựng mẫu - Kính hiển vi, máy ảnh - Xô chậu, chén sứ, ống tiêm - Bể ương composite thể tích 0,25 m3, 0,5 m3, 2 m3 b) Hoá chất - Muối NaCl tinh khiết - Nước cất - Nước muối sinh lí 0,9 - Cồn 900, formalin 10% - Kích dục tố: HCG và não thùy - Motilium-M (10mg domperidone) c) Thức ăn dùng trong nghiên cứu Thức ăn dùng trong nghiên cứu được trình bày ở Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho cá Măng sữa bố mẹ Protein Lipid Chất tro Xơ Kích cỡ Thành phần (%) (%) (%) (%) (mm) Cá tạp 78,6 3,2 5,8 Thức ăn tự chế cho cá bố mẹ 30 4 4-5 Thức ăn viên công nghiệp cho cá bố mẹ 40 6 13 5 4-5 Luân trùng 60,35 19,2 10,3 0,05-0,14 Artemia 57,74 26,78 7,81 0,4-10 Copepoda 56,8 20,2 10,7 1,200 Thức ăn công nghiệp cho cá bột 42,2 3,2 5,4 2-3 25 Nguồn: Sử dụng thức ăn viên công nghiệp chuyên dùng cho cá chẽm, các thông số dựa trên bao bì nhà sản xuất; Thức ăn tự chế, cá tạp (cá trích, cá nục), luân trùng, Artemia, copepoda phân tích tại Phòng thí nghiệm cơ sở thuỷ sản, Viện Nông nghiệp và Tài nguyên – Trường Đại học Vinh. Trong đó: Xác định hàm lượng protein thô (P): theo phương pháp Kjeldahl, TCVN 4331-2001; Xác định hàm lượng Lipid thô: theo phương pháp chiết phân đoạn ete, TCVN 4331-2001; Xác định độ ẩm (W) theo TCVN-4326-86: Dùng phương pháp sấy ở 105oC. Độ ẩm của nguyên liệu là lượng nước mất đi trong khi sấy.
Phương pháp nghiên cứu 2. Sơ đồ khối nghiên cứu Sơ đồ khối nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua Hình 2. Sơ đồ khối nghiên cứu cá Măng sữa 26 2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Măng sữa ngoài tự nhiên 2.
Phương pháp định loại cá Măng sữa Định loại cá Măng sữa dựa trên phương pháp phân loại hình thái ngoài của Pravdin (1961; theo bản dịch của Phạm Thị Minh Giang, 1973) [62]. Định loại cá theo một số tài liệu Keat-Chuan et al. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái Mẫu cá thu ngoài tự nhiên bằng lưới kéo. Mẫu cá được bất hoạt (phá huỷ não cá đối với cá to, gây sốc ở nhiệt độ 0oC đối với cá nhỏ), rửa sạch, bảo quản lạnh và chuyển mẫu tại phòng thí nghiệm.
Chiều dài SL: 20,05 – 40,13cm; Khối lượng Wt: 12,83-47,58g; SL: 38,40 – 74,36cm; Wt: 50,2 – 2332g. Cá sử dụng trong nghiên cứu hình thái với số lượng là 64 mẫu. Cá có chiều dài từ 16,3 đến 64,7 cm, khối lượng cá từ 420 đến 3500 g. Chiều dài tổng, chiều dài chuẩn được đo bằng thước đo panme (cm), các chỉ tiêu về khối lượng được cân bằng cân kĩ thuật hai số lẻ (gam).
Hình dạng cơ thể, hình dạng đầu, vị trí và kích thước mở miệng của các mẫu cá Măng sữa được nghiên cứu theo phương pháp của Pravdin (1961) [63] và Rainboth (1996) [65]. Các chỉ tiêu số lượng đếm được như vảy, tia vây theo Holden and Raitt (1974) [66]. Các chỉ tiêu hình thái đo theo Lowe-McConnel (1971), Grant and Spain (1977) (theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) [67]. Các chỉ tiêu hình thái được đo theo hướng dẫn Hình 2.
Sơ đồ đo hình dạng cá Măng sữa Chanos chanos (Forskal, 1775) - Số lượng tia vây lưng: D (Dorsal fin). - Số lượng tia vây hậu môn: A (Anal fin). 27 - Số lượng tia vây ngực: P (Pectoral fin). - Số lượng tia vây bụng: V (Ventral fin).
- Số lượng vảy cơ quan đường bên và vảy trên đường bên - Số lượng đốt sống * Các chỉ số sinh trắc (Biometric index) - Chiều dài chuẩn/ chiều dài đầu (SL/HL). - Chiều dài chuẩn/ Chiều cao thân (SL/BD). - Chiều dài đầu/ đường kính mắt (HL/ED). - Chiều dài đầu/ khoảng cách 2 mắt (HL/EK).
- Đường kính mắt/dài chuẩn (ED/SL). - Khoảng cách 2 mắt/ Chiều dài chuẩn (EK/SL). Mẫu cá sau khi cân, đo và tiến hành giải phẫu để khảo sát các đặc điểm hình thái cấu tạo các cơ quan nội tạng. Nghiên cứu tập trung vào những cơ quan thuộc hệ tiêu hóa như miệng, răng, lược mang, thực quản, dạ dày, ruột, manh tràng, gan (Lagler et al.
Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng a) Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG) Khảo sát ống tiêu hóa của 60 mẫu cá Măng sữa (chiều dài tổng từ 20,5-74,36 cm) thu ngoài tự nhiên từ tháng 02/2017 đến tháng 01/2018. Chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG - Relative Lengh of the Gut) tính toán theo công thức của Al-Hussainy (1949) [70] như sau: RLG = Li/ Lt Trong đó: - Li (cm) là chiều dài ruột; - Lt (cm) là chiều dài toàn thân cá. b) Xác định phổ dinh dưỡng của cá Măng sữa * Thu và cố định mẫu Tiến hành phân tích thành phần thức ăn trong ống tiếu hóa của 60 mẫu cá. Trong đó có mẫu cá nhỏ: 30 mẫu (SL: 20,05 – 40,13cm; Wt: 12,83 – 47,58 g); mẫu cá nhỡ và lớn là 30 mẫu (SL: 38,40 – 74,36cm; Wt: 50,2 – 2332g).
Mẫu cá được cố định trong dung dịch formol 4%. Cá có khối lượng lớn được tiêm formol 10% vào 28 xoang bụng. Ống tiêu hóa được lấy và bảo quản riêng trong dung dịch formol 4% để đảm bảo thành phần thức ăn không thay đổi. Thành phần thức ăn trong ruột cá được phân loại theo Đặng Ngọc Thanh và cs.
(1980); Mai Đình Yên và cs. * Phương pháp phân tích phổ dinh dưỡng Phổ dinh dưỡng của cá Măng sữa trưởng thành được xác định theo phương pháp tần xuất xuất hiện và phương pháp khối lượng của Biswas (1993) [74].